- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thảo-Chương"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T. Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Bùi Minh C.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 175/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31/5/2024 “ V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA-TỈNH ĐỒNG NAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triều Châu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thiều Thị Phi Loan.
2. Ông Trần Văn Chánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Thư ký TAND TP.Biên Hòa.
- Đại diện VKSND thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 415/2024/TLST-HNGĐ ngày 28/02/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1983.
Địa chỉ liên lạc: 32/5 khu phố 3, phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Bùi Minh C, sinh năm 1976.
Trú tại: 10/2D, khu phố 1, phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, Đồng Nai. ( Bà Thảo có đơn xin vắng mặt, ông Chương vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn, bản tự khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu Thảo trình bày: Bà Thảo và ông Bùi Minh Chương quen biết và tìm hiểu lập gia đình với nhau vào năm 2007, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Trong quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc nhưng khoảng 02 năm trở lại đây thì phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng hay bất đồng quan điểm trong cuộc sống không thể giải quyết, hay xảy ra cãi vả dẫn đến xung đột trong cuộc sống. Bà Thảo và ông Chương đã nhiều lần ngồi lại giải quyết nhưng không có kết quả, đã sống ly thân. Nay xét thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Chương.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Bùi Nguyễn Minh Khoa, sinh ngày 08/02/2009 và cháu Bùi Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 13/09/2018. Ly hôn, bà Thảo có nguyên vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đăng Khoa vì cháu ở ổn định cùng với bà Thảo và đồng ý giao cháu Minh Khoa cho ông Chương trực tiếp nuôi dưỡng do hiện cháu đang sinh sống cùng ông Chương. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Bùi Minh Chương đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về sự vắng mặt của các đương sự: Theo biên bản xác minh ngày 22/3/2024 thì ông Bùi Minh Chương hiện đang cư trú tại số nhà 10/2D, khu phố 1, phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và hiện đang sinh sống tại địa chỉ này (bút lục 22). Căn cứ Điều 28 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Bùi Minh Chương cố tình vắng mặt không có lý do, bà Nguyễn Thị Thu Thảo có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử. Căn cứ Điều 227, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án và đương sự tham gia tố tụng tại phiên tòa là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Hôn nhân giữa bà Thảo và ông Chương là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà Thảo có căn cứ.
Về con chung: Các đương sự có 02 con chung là cháu Bùi Nguyễn Minh Khoa, sinh ngày 08/02/2009 và cháu Bùi Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 13/09/2018. Ly hôn, bà Thảo có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đăng Khoa vì cháu ở ổn định cùng với bà Thảo và cháu Minh Khoa đang sống ổn định với ông Chương. Nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Minh Khoa cho bà Thảo nuôi dưỡng và giao cháu Đăng Khoa cho ông Chương nuôi dưỡng. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Đương sự khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Thảo phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Theo biên bản xác minh ngày 22/3/2024 thì ông Bùi Minh Chương hiện đang cư trú tại số nhà 10/2D, khu phố 1, phường Tam Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và hiện đang sinh sống tại địa chỉ này (bút lục 22). Căn cứ Điều 28 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Bùi Minh Chương cố tình vắng mặt không có lý do, bà Nguyễn Thị Thu Thảo có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử. Căn cứ Điều 227, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Thảo và ông Chương chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường Tân Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của bà Thảo thì vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, ông Chương không quan tâm đến gia đình, thường xuyên gây gỗ nhau và đã sống ly thân. Tình cảm vợ chồng không còn nên bà Thảo đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Chương. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Thảo và ông Chương thật sự trầm trọng không thể hàn gắn được, Tòa án đã tạo điều kiện hòa giải hàn gắn đoàn tụ nhưng bà Thảo cương quyết ly hôn không đồng ý đoàn tụ. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thảo về việc ly hôn với ông Bùi Minh Chương.
Về con chung: Các đương sự có 02 con chung là cháu Bùi Nguyễn Minh Khoa, sinh ngày 08/02/2009 và cháu Bùi Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 13/09/2018. Hiện cháu Đăng Khoa đang sống ổn định với bà Thảo và cháu Minh Khoa đang sống ổn định với ông Chương. Nên cần giao cháu Minh Khoa cho bà Thảo nuôi dưỡng và giao cháu Đăng Khoa cho ông Chương nuôi dưỡng. Tạm thời không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Viện kiểm sát phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên cần ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 207, Điều 271, Điều 273, Điều 227 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 9,10,11,12 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000; Căn cứ các Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014;
Áp dụng Điều 6; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu T. Bà Nguyễn Thị Thu T được ly hôn với ông Bùi Minh C.
2. Về con chung: Giao con chung Bùi Nguyễn Minh Khoa, sinh ngày 08/02/2009 cho bà Nguyễn Thị Thu T chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng và giao con chung Bùi Nguyễn Đăng Khoa, sinh ngày 13/09/2018 cho ông Bùi Minh C chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời các đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con.
Bà T, ông C được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết, các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về nợ chung: Đương sự khai không nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
5. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Thảo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự TP Biên Hòa, biên lai số 0002538 ngày 26/02/2024. Bà Thảo đã nộp xong án phí.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Các đương sự (2); - VKSND TP.Biên Hòa (2); - Chi cục THA dân sự TP.Biên Hòa (1); - TAND tỉnh Đồng Nai (1); - UBND P.Tân Hòa, Tp.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai(1). - Lưu hồ sơ vụ án (1); - Lưu văn phòng (1). | Nguyễn Triều Châu |