vanban.org

Bản án 175/2023/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 02/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ 13 (Mười ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thanh Đ cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Ngọc, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gia… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Đ - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 173 Bộ luật Hình sự Xử phạt; Điều 65 Bộ luật Hình sự Xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 175/2023/HSPT
Ngày: 02-3-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm

Các Thẩm phán: 1. Bà Đặng Thị Thanh Huyền

2. Ông Lưu Ngọc Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thanh Bình, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thuý Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1000/2022/TLPT-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thanh Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 234/2022/HSST ngày 19/10/2022 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội.

* Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1999.

ĐKHKTT: Thôn M, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nơi cư trú: Phòng X, chung cư I, xã Vĩnh Ngọc, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T (đã chết) và bà Phạm Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không;

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/5/2022 đến ngày 25/5/2022 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh Đ: Ông Nguyễn Hồng Quân, Luật sư của Công ty Luật TNHH Trung Quân, thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1961; nơi cư trú: R phố D, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu sài nên Nguyễn Thanh Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 14/5/2022, Đ điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 30M9-0315 đi từ nhà đến gửi xe tại Ngân hàng Agribank – Số 25 T1 Mai, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội rồi đi bộ dọc phố D. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, khi đến trước số 24 ngõ 153 D, phường V, quận H, thành phố Hà Nội thì Đ phát hiện 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu vàng, BKS 29D1-93225 của bà Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1961, ĐKHKTT và nơi cư trú: 24 ngõ 153 D, phường V, quận H, thành phố Hà Nội) đang dựng trước cửa nhà không có ai trông giữ. Kiểm tra thấy chiếc xe không khóa cổ nên Đ đã lấy trộm chiếc xe. Đ dắt xe đến khu vực gầm cầu V rồi quay vòng lại hướng về phía Kim Ngưu để tìm thợ đánh chìa khoá xe máy.

Khi đến đầu ngõ 119 Lò Đúc, phường Đông Mác, quận H, thành phố Hà Nội, Đ thuê ông Ngô Văn C đánh chìa khoá xe với giá 200.000 đồng. Sau khi đánh xong chìa khoá, do không có đủ tiền trả nên Đ để lại Căn cước công dân và Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thanh Đ để làm tin và hẹn tối sẽ quay lại trả tiền thì ông C đồng ý. Sau đó, Đ điều khiển xe máy đến khu vực đường Nguyễn Phúc Lai, phường Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội thì bị Công an phường Khâm Thiên phối hợp với Công an phường Ô Chợ Dừa kiểm tra hành chính và mời về trụ sở làm việc.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu vàng BKS 29D1-93225 số khung 451XFY722629, số máy JF45E0732636;

- 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen xám BKS 30M9-0315 số khung 151891, số máy 143890;

- 01 Căn cước công dân, 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thanh Đ.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh Đ khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngày 14/5/2022, Đ mượn của anh ruột là anh Nguyễn Thế A chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen xám BKS 30M9-0315 để đi lại.

Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu vàng BKS 29D1-93225 thu giữ của Đ:

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự 137/KL-HĐGĐTS ngày 22/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận H, chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu vàng BKS 29D1-93225, số khung 451XFY722629, số máy JF45E0732636 trị giá 18.000.000 đồng.

Đối với ông Ngô Văn C, quá trình điều tra xác định ông C không biết, không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của Đ nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý trong vụ án này.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu vàng BKS 29D1-93225, qua tra cứu có số khung 451XFY722629, số máy JF45E0732636 là số máy nguyên thủy, không nằm trong cơ sở dữ liệu xe tang vật. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị T1. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 90 ngày 08/9/2022 trao trả cho bà T1 chiếc xe máy trên, bà T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.

Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen xám BKS 30M9-0315, qua tra cứu số khung 151891, số máy 143890 là số nguyên thủy, không nằm trong cơ sở dữ liệu xe tang vật, đứng tên đăng ký xe là ông Đỗ Văn Thông (sinh năm 1966, nơi cư trú: Cao Mật Hạ, xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, Hà Nội). Ông Thông trình bày năm 2016 ông đã bán chiếc xe trên cho chị Phạm Thị Vân Nga (sinh năm 1977, nơi cư trú: P3012 HH2B Linh Đàm, quận Hoàng Mai, Hà Nội) với giá 10.000.000 đồng. Chị Nga trình bày cuối năm 2021 đã bán chiếc xe trên cho anh Nguyễn Thế A với giá 7.000.000 đồng tại hầm gửi xe chung cư HH2B Linh Đàm, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Chiếc xe trên không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 91 ngày 12/9/2022 trao trả cho anh Thế A chiếc xe máy trên.

Đối với 01 Căn cước công dân và 01 Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thanh Đ xác định là giấy tờ cá nhân của Đ.

Tại bản Cáo trạng số 204/CT/VKS-HS ngày 30/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thanh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 234/2022/HSST ngày 19/10/2022 của Tòa án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội:

Tuyên bố Nguyễn Thanh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 16/5/2022 đến ngày 25/5/2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/10/2022, bị cáo Nguyễn Thanh Đ kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh Đ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội nhận định:

Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung kháng cáo:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh Đ tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thanh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật; mức hình phạt 13 tháng tù là phù hợp.

Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ, sửa quyết định của bản án sơ thẩm. Cụ thể:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ 13 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 26 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh Đ nhất trí về việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật. Về mức hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo nhất thời phạm tội, tài sản trộm cắp đã được thu giữ, trả lại ngay cho bị hại, bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại thêm 5.000.000 đồng; bị cáo có người thân là người có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng để cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ trong thời hạn luật định, đúng về chủ thể, được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh Đ, vật chứng thu được, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 14/5/2022 tại số 24 ngõ 153 phố D, phường V, quận H, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thanh Đ có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu vàng, BKS 29D1-93225 của bà Nguyễn Thị T1.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự 137/KL-HĐGĐTS ngày 22/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận H, chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead màu vàng BKS 29D1-93225, số khung 451XFY722629, số máy JF45E0732636 trị giá 18.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thanh Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội; bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có người thân là người có công với cách mạng để cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thanh Đ xuất trình tài liệu thể hiện quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại 5.000.000 đồng và bị hại tiếp tục có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ và sửa quyết định của bản án sơ thẩm, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử sửa quyết định của bản án sơ thẩm nên bị cáo Nguyễn Thanh Đ không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh Đ và sửa Quyết định của bản án sơ thẩm:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Đ 13 (Mười ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 26 (Hai mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thanh Đ cho Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Ngọc, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thanh Đ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Thanh Đ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thanh Đ không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 02/3/2023.

Cỡ chữ