vanban.org

Bản án 175/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T. Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thanh T được ly hôn với anh Đinh Hoài Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH QUÁN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:175/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-9-2023
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Xuân Mẫn và bà Trần Thúy Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại Phòng xét xử A - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 261/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 05 năm 2023, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 138/2023/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1970

HKTT: tổ 6, ấp 5, xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Anh Đinh Hoài Đ, sinh năm 1965

HKTT: tổ 6, ấp 5, xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai

(Nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Bích T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Đinh Hoài Đ kết hôn tự nguyện, chung sống với nhau vào năm 1996, có đăng ký kết hôn số 81, quyển số 01, ngày 10-5-1999 tại UBND phường 11, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống nên không tìm được tiếng nói chung. Anh Đ có tính gia trưởng ghen tuông vô cớ, không tôn trọng mà chửi bới xúc phạm danh dự của chị. Từ tháng 9/2020 đó đến nay 02 người không còn sống chung với nhau. Chị nhận thấy tình cảm thương yêu không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

- Về nuôi con chung: có 04 con chung gồm: 1/ Đinh Hoàng Bảo N, sinh ngày 20/9/1997, 2/ Đinh Hoàng Bảo Y, sinh ngày 17/9/2001, 3/ Đinh Hoài A sinh ngày 18/12/2005, 4/ Đinh Hoàng Bảo Ng, sinh ngày 10/4/2011. Hiện nay các con chung N, Y đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung Hoài Avà Bảo Ng, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 10 tháng 8 năm 2023 bị đơn anh Đinh Hoài Đ trình bày: Về quan hệ hôn nhân anh Đ đồng ý như lời trình bày của chị T như trên về quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên mâu thuẫn xảy ra là do 02 người bất đồng quan điểm sống, chuyện làm ăn kinh tế gia đình gặp khó khăn. Bản thân anh cũng có tính ghen tuông vì phát hiện ra chị T có mối quen hệ với người đàn ông khác khi mở quán bán nước uống giải khát tại ấp 1, xã La Ngà. Hiện nay hai người không còn chung sống với nhau, không nói chuyện. Nay chị T xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ con.

Về nuôi con chung:có 04 con chung gồm: có 04 con chung gồm: 1/ Đinh Hoàng Bảo N, sinh ngày 20/9/1997, 2/ Đinh Hoàng Bảo Y, sinh ngày 17/9/2001, 3/ Đinh Hoài A sinh ngày 18/12/2005, 4/ Đinh Hoàng Bảo Ng, sinh ngày 10/4/2011. Hiện nay các con chung N, Y đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết. Trường hợp Tòa án giải quyết cho vợ chồng anh ly hôn thì anh yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Bảo Ng, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh làm rẫy với mức thu nhập bình quân hàng tháng là 5.000.000đ.

Tài sản chung:không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T. Về hôn nhân: Cho chị T được ly hôn với anh Đ. Về con chung: 02 con chung Bảo Nhi, Bảo Yến đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không ai phải nuôi dưỡng. Giao 02 con chung Hoài Anh và Bảo Ngọc cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu. Tài sản chung: tự thỏa thuận, nợ chung không có nên không xem xét. Về án phí: Chị T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

. Xác định thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Anh Đinh Hoài Đ cư trú sinh sống tại tổ 6, ấp 5, xã La Ngà, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. Vì vậy, căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán. Chị T yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con, vì vậy cần xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

. Xác định tư cách đương sự: Ngày 23/5/2023, Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện về việc chị T xin ly hôn với anh Đ. Căn cứ theo khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định chị là nguyên đơn, anh Đ là bị đơn trong vụ án.

[1.3]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xét xử vắng mặt; Bị đơn anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị T và anh Đ được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn số số 81, quyển số 01, ngày 10-5-1999 tại UBND phường 11, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo luật định. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/8/2023, các biên bản xác minh ngày 10/8/2023 thể hiện vợ chồng anh chị có mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, gặp khó khăn về kinh tế. Anh Đ tính gia trưởng, ghen tuông nên chửi bới xúc phạm chị. Hiện nay hai người không còn chung sống với nhau, không nói chuyện, không quan tâm chia sẻ với nhau. Anh Đ cho rằng còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên từ khi Tòa án thụ lý vụ án ngày 23/5/2023 cho đến khi hòa giải thì anh không đến tham gia tố tụng, có thái độ bỏ mặc không quan tâm mạnh ai nấy sống. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, chị T và anh Đ đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận nên cho chị T được ly hôn với anh Đ.

- Về nuôi con chung:có 04 con chung gồm: 1 có 04 con chung gồm: 1/ Đinh Hoàng Bảo N, sinh ngày 20/9/1997, 2/ Đinh Hoàng Bảo Y, sinh ngày 17/9/2001, 3/ Đinh Hoài A sinh ngày 18/12/2005, 4/ Đinh Hoàng Bảo Ng, sinh ngày 10/4/2011. Đối với 02 con chung Bảo Nhi và Bảo Yến đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu nuôi dưỡng, vì vậy không xem xét. Qua xác minh tại địa phương ngày 10/8/2023 thể hiện từ lúc sống ly thân đến nay thì chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm lo cho con chung Hoài An và Bảo Ngọc. Bản thân chị làm nghề tự do buôn bán nước giải khát với mức thu nhập bình quân mỗi ngày là 300.000đ, hàng tháng khoảng 9.000.000đ (trừ đi tiền thuê nhà, điện nước khoảng 2.000.000đ thì mỗi tháng còn 7.000.000đ), đủ điều kiện nuôi con. Bên cạnh đó cháu Hoài An và Bảo Ngọc cũng có đơn nguyện vọng mong muốn được mẹ nuôi dưỡng. Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/8/2023 anh Đ yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Bảo Ng. Nghề nghiệp anh làm rẫy, làm thuê với mức thu nhập trung bình khoảng 5.000.000đ/tháng. Để bảo đảm cuộc sống cho con chung phát triển tốt về mặt thể chất cũng như ổn định vấn đề tinh thần, tâm lý cho trẻ nên tiếp tục giao 02 con chung Hoài A và Bảo Ngọc cho chị T được nuôi dưỡng là có cơ sở. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình, do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm thời miễn cho anh Đ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Đương sự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên khi có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về ly hôn.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Điều 11, Điều 18, Điều 85, Điều 89, Điều 91, Điều 92, Điều 93, Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Thanh T.

- Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Thanh T được ly hôn với anh Đinh Hoài Đ.

- Về nuôi con chung: Con chung Đinh Hoàng Bảo N, sinh ngày 20/9/1997 và Đinh Hoàng Bảo Y, sinh ngày 17/9/2001 đã đủ 18 tuổi, có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu nuôi dưỡng, vì vậy không xem xét.

Giao con chung Đinh Hoài A, sinh ngày 18/12/2005 và Đinh Hoàng Bảo Ngọc, sinh ngày 10/4/2011 cho chị Huỳnh Thị Thanh T được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời miễn cho anh Đ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung, anh Đ và chị T có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Nợ chung: Đương sự trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên khi có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

2. Về án phí: Chị Huỳnh Thị Thanh T phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ chị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004412 ngày 23/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí.

3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Báo cho chị T và anh Đ biết, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ