- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "T/C HĐ vay ts giữa Nguyễn Thị Diệu H và Nguyễn Văn R"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Diệu H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 175/2023/DS-ST Ngày: 25-8-2023 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vũ Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Lâu 2. Ông Huỳnh Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trần Khắc Huy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên tòa. Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 283/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2023 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2023/QĐXX-ST ngày 21 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Diệu H
sinh năm: 1969 Địa chỉ: số 163B1/7, khu vực H, phường K, quận M, thành phố Cần Thơ. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1979. Địa chỉ: số 163K/10, khu vực H, phường K, quận M, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 09 tháng 5 năm 2023). 2. Bị đơn: ông Nguyễn Văn R
sinh năm: 1964 Địa chỉ: số 187A, tổ B, khu C, thị trấn D, huyện E, tỉnh Tiền Giang
(Bà N có mặt, ông R vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 5 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H là bà Nguyễn Thị N trình bày: Vào ngày 06 tháng 5 năm 2022 do cần vốn làm ăn nên ông Nguyễn Văn R có hỏi vay bà Nguyễn Thị Diệu H số tiền là 300.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 02%/tháng, thời hạn vay là 03 tháng. Khi vay ông R có làm giấy cam kết mượn tiền cho bà H và có đưa cho bà H giữ 01 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 288, diện tích 1660m2 tọa lạc tại ấp X, xã Y, huyện E, tỉnh Tiền Giang do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Tiền Giang cấp cho ông Nguyễn Văn R để làm tin. Sau khi vay, ông R có trả cho bà H 01 tháng tiền lãi rồi ngưng trả vốn, lãi cho đến nay mặc dù bà H đã nhiều lần yêu cầu ông R trả tiền nhưng ông R cố tình né tránh không trả. Nay bà yêu cầu ông Nguyễn Văn R trả bà Nguyễn Thị Diệu H số tiền 300.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi của số tiền này theo quy định từ ngày 25 tháng 7 năm 2023 đến ngày xét xử, yêu cầu vốn lãi trả làm 01 lần.
Ông Nguyễn Văn R đã được Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Tiền Giang tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng ông R không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tại phiên tòa bà N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Diệu H vẫn giữ nguyên yêu cầu như trên, ông R đã được Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Tiền Giang triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông R là phù hợp Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Diệu H khởi kiện ông Nguyễn Văn R về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, ông R cư trú tại số 187A, tổ B, khu C, thị trấn D, huyện E, tỉnh Tiền Giang. Do đó, Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Tiền Giang thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, bà Nguyễn Thị Diệu H yêu cầu ông Nguyễn Văn R trả tiền vay nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về nội dung: Giữa bà Nguyễn Thị Diệu H và ông Nguyễn Văn R thực tế có xảy ra quan hệ vay tài sản với nhau được thể hiện qua “TỜ CAM KẾT” do bà Hiền cung cấp. “TỜ CAM KẾT” ngày 6 tháng 5 năm 2022 có nội dung: “Tôi tên: Nguyễn Văn R sinh năm: 1964 CMND số: xxxxxxxxx Địa chỉ thường trú: số 187A Tổ B khu C Thị trấn D. Huyện E. Tỉnh Tiền Giang. Tôi có cầm chuyển nhượng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…cho bà: Nguyễn Thị Diệu H… Số tiền là: 300.000.000đ,00 (Ba trăm triệu đồng). Với lãi suất 2%/tháng…Tôi cam kết sẽ thực hiện đúng và trả lãi đủ hàng tháng cho chị H”. Xét thấy, “TỜ CAM KẾT” ngày 6 tháng 5 năm 2022 có chữ ký tên của ông R và bà H, có thể hiện số tiền ông R vay bà H 300.000.000 đồng như lời trình bày của bà N là người đại diện theo ủy quyền của bà H tại phiên tòa, còn ông R đã được Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Tiền Giang tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết vụ án nhưng vẫn cố tình vắng mặt không lý do chứng tỏ ông R biết mình có vay bà H số tiền 300.000.000 đồng đến nay chưa trả. Xét thấy, ông R đã nhận được quyền của mình là nhận tiền vay từ bà H nhưng đến hạn trả nợ theo thỏa thuận thì lại cố tình không thực hiện mặc dù bà H đã nhiều lần yêu cầu ông R trả nợ là nhằm kéo dài thời gian làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H. Do đó, cần buộc ông R trả bà H số tiền 300.000.000.000 đồng là phù hợp Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015.
Về yêu cầu tính lãi: bà N là người đại diện theo ủy quyền của bà H yêu cầu ông R trả lãi của số tiền 300.000.000 đồng từ ngày 25 tháng 7 năm 2023 đến ngày xét xử với mức lãi suất theo quy định, ông R vắng mặt nên không có ý kiến đối với yêu cầu tính lãi của bà H. Xét thấy, ông R đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận nên phải trả lãi theo yêu cầu bà H là phù hợp Điều 466 Bộ Luật dân sự năm 2015. Như vậy, lãi suất của số tiền 300.000.000 đồng từ ngày 25 tháng 7 năm 2022 đến ngày xét xử là ngày 25 tháng 8 năm 2023 là 13 tháng, số tiền là 32.370.000 đồng.
Tổng cộng tiền vốn và lãi ông R phải trả cho bà H 01 lần là 332.370.000 đồng (ba trăm ba mươi hai triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
Về án phí: Ông R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của bà H được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm do yêu cầu khởi kiện của bà H được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 35; Điều 39; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Diệu H.
1.1 Buộc ông Nguyễn Văn R phải có nghĩa vụ trả bà Nguyễn Thị Diệu H 01 lần số tiền vay vốn, lãi tổng cộng là 332.370.000 đồng (ba trăm ba mươi hai triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
1.2 Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Diệu H có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Văn R chậm thi hành đối với số tiền trên thì còn phải chịu thêm khoản lãi theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
2.1 Ông Nguyễn Văn R phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 16.618.500 đồng (mười sáu triệu sáu trăm mười tám nghìn năm trăm đồng).
2.2 Bà Nguyễn Thị Diệu H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho bà H 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011450 ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện E, tỉnh Tiền Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Diệu H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với ông Nguyễn Văn R thời hạn kháng cáo trên được tính kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
4. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Cái Bè; - Chi cục THADS huyện Cái Bè; - Lưu hồ sơ vụ án. | Nguyễn Thanh Vũ |