- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Nhơn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhơn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 175/2022/HSST Ngày: 22/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hiếu;
2. Ông Nguyễn Đình Phúc.
- Thư ký phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Bùi Ngọc Khánh Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Thanh Kim Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:
+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang– Kiểm sát viên.
+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Mai Đức Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 12 năm 2022 Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 159/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2022 theo hình thức trực tuyến, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an Quận 1 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1081/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Nhơn T, sinh ngày 01 tháng 12 năm 1967, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số A đường P, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị B (chết); chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15 tháng 5 năm 1987 bị Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” nhưng cho hưởng án treo theo bản án số: 99/HS-ST, ngày 29 tháng 4 năm 2014 bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số: 165/2014/HSST, ngày 15 tháng 6 năm 2022 bị Ủy ban nhân dân phường P, Quận 1 ra quyết định về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22 tháng 8 năm 2022 tại nhà tạm giữ Công an Quận 1. (có mặt) Người bị hại: Ông Nguyễn H, sinh năm: 1981; Chỗ ở hiện nay: Số 134 Chung cư N, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Bình H, sinh năm: 1991; Chỗ ở hiện nay: Ấp B, Bình Thạnh Đ, huyện P, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Bà Hà Thị T, sinh năm: 1977; Chỗ ở hiện nay: Ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Long An. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do cần tiền tiêu xài, khoảng 11 giờ 19 phút ngày 24 tháng 3 năm 2020 Nguyễn Nhơn T đi bộ đến trước nhà số 158 đường B, phường P, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh nhìn thấy xe môtô hiệu Việt Thai VT Sirus 50, biển số: 67AK-081.21 của ông Nguyễn H có gắn chìa khóa không người trông coi nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt. T đến dắt xe đi rồi tẩu thoát. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, ông H ra lấy xe phát hiện xe bị trộm. Qua kiểm tra camera tại nơi xảy ra vụ việc, ông H phát hiện 01 người đàn ông chưa rõ nhân thân, lai lịch đã lấy trộm xe mô tô. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 27 tháng 3 năm 2022, ông H phát hiện đối tượng tình nghi lấy trộm xe là T đang có mặt tại cửa hàng tiện lợi Vinmart số 176 đường B, phường P, Quận 1 nên đã đưa Trung về Công an phường P, Quận 1 làm việc và thu giữ của T 01 xe môtô biển số: 62N1-430.99. Quá trình điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của T phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản đối chất, biên bản nhận dạng, hình ảnh Camera và những tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã thu thập được. Ngoài ra, T khai đã bán xe trộm được cho người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch với giá 2.000.000 đồng. Theo bản kết luận định giá tài sản số: 150/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 7 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 1, kết luận: Xe mô tô hiệu Việt Thai, loại VT Sirus 50, biển số: 67AK-081.21 trị giá 4.833.000 đồng. (Bút lục: 49-50)
Bản cáo trạng số: 161/CT-VKSQ1 ngày 09 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Nguyễn Nhơn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng: Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu nên cần có mức án nghiêm. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: 01 xe mô tô hiệu Việt Thai, loại VT Sirus 50, biển số: 67AK-081.21 của ông H không thu hồi được. Ông H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng giá trị của xe và bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại.
- Về xử lý vật chứng:
+ 01 USB, 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình khi bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội cần tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.
+ 01 xe mô tô biển số: 62N1-430.99; số khung: RLHJA3908HY028003, số máy: JA39E0028076 trả lại cho bị cáo. Trường hợp các bên phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu xe thì dành cho các bên trong vụ án khác nhưng phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là biên bản tiếp nhận nguồn tin tội phạm, biên bản bắt bị can để tạm giam, biên bản hoạt động điều tra, hình ảnh camera hiện trường, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản làm việc, bản tường trình, bản tự khai, biên bản đối chất, kết luận định giá tài sản,… nên có căn cứ để kết luận: Khoảng 11 giờ 19 phút ngày 24 tháng 3 năm 2020, tại trước nhà số 158 đường B, phường P, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Trung đã có hành vi lợi dụng sự không để ý của ông H lén lút chiếm đoạt xe môtô hiệu Việt Thai VT Sirus 50, biển số: 67AK-081.21 của ông H rồi bị phát hiện bắt giữ, trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.833.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần có mức án nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu ngày 15 tháng 5 năm 1987 bị Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”, ngày 29 tháng 4 năm 2014 bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” nên cần có mức án nghiêm. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. [5] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
Đối với người đàn ông mua xe môtô hiệu Việt Thai VT Sirus 50, biển số: 67AK-081.21 do bị cáo Trung mang đến bán. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của người đàn ông này nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1 tiếp tục xác minh, làm rõ có căn cứ xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với 01 xe mô tô hiệu Việt Thai, loại VT Sirus 50, biển số: 67AK-081.21 của ông H không thu hồi được. Ông H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng là giá trị của xe. Theo bản kết luận định giá tài sản số: 150/KL-HĐĐGTS ngày 25 tháng 7 năm 2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 1 thì xe mô tô trên trị giá 4.833.000 đồng, nhưng tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho ông H số tiền 5.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo. Tuy nhiên, ông H khai năm 2017 ông mua xe trên của ông Hồ Bình H, sinh năm: 1991; trú tại: Ấp B, Bình Thạnh Đ, huyện P, tỉnh An Giang nhưng chưa sang tên đổi chủ theo quy định. Dó đó, trường hợp các bên phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu xe thì dành cho các bên trong vụ án dân sự khác nhưng phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 USB, 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình khi bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội cần tiếp tục lưu trong hồ sơ.
- Đối với 01 xe mô tô biển số: 62N1-430.99; số khung: RLHJA3908HY028003, số máy: JA39E0028076 qua giám định xe mô tô có số khung, số máy không thay đổi. Qua xác minh xe của bà Hà Thị T, sinh năm: 1971; trú tại: Ấp 2, xã T, huyện B, tỉnh Long An đứng tên đăng ký chủ sở hữu nhưng hiện bà T không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì không rõ. Bị cáo T khai năm 2021 bị cáo mua xe trên của một người qua mạng với giá 1.500.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả. Xét việc thu giữ xe trên của bị cáo không liên quan đến vụ án cần xem xét trả lại cho bị cáo. Trường hợp các bên phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu xe thì dành cho các bên trong vụ án khác nhưng phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhơn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Nguyễn Nhơn T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2022.
- Áp dụng Điều 30 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 584, Điều 585, Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Nhơn T bồi thường cho ông Nguyễn H số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Trường hợp các bên phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu xe mô tô hiệu Việt Thai, loại VT Sirus 50, biển số: 67AK-081.21 (không thu hồi được) thì dành cho các bên trong vụ án khác nhưng phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, + Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) USB, 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình khi bị cáo Nguyễn Nhơn T thực hiện hành vi phạm tội. + Trả cho bị cáo Nguyễn Nhơn T 01 (một) xe mô tô biển số: 62N1-430.99; số khung: RLHJA3908HY028003, số máy: JA39E0028076. Trường hợp các bên phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu xe thì dành cho các bên trong vụ án khác nhưng phải đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 50-20/PNK ngày 16 tháng 4 năm 2020 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)
- Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Nhơn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bị cáo Nguyễn Nhơn T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Tp. HCM; - VKSND Tp. HCM; - VKSND Quận 1, Tp. HCM; - Chi cục THADS Quận 1, Tp. HCM; - Công an Quận 1, Tp. HCM; - Phòng PC 53; - Sở Tư pháp Tp. HCM - Bị cáo; - Người bị hại, - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Ngọc Tuân |