vanban.org

Bản án 175/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với anh Nguyễn Nam G.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Nam G. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày 25/11/2007, Nguyễn Nam Quốc S, sinh ngày 27/10/2013 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Nguyễn Nam G không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị L yêu cầu ly hôn với anh G, con chung, không cấp dưỡng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với anh Nguyễn Nam G.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08/12/2022
V/v: “Ly hôn và tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài.

Ông Vũ Xuân Tuất.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 944/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm: 1986.

Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện H, Tp. Hồ Chí Minh

- Bị đơn: Anh Nguyễn Nam G, sinh năm: 1985.

Địa chỉ: Tổ 16, ấp B, xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

(chị L vắng mặt, anh G có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, biên bản làm việc, biên bản đối chất và biên bản hòa giải có trong hồ sơ vụ án, chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Nam G tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau nên chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2007. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh G thường xuyên chửi bới, xúc phạm chị và gia đình và không quan tâm đến gia đình, từ năm 2018 hai vợ chồng không chung sống với nhau, nay chị xác định không còn tình cảm với anh G, hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh G.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày 25/11/2007, Nguyễn Nam Quốc S, sinh ngày 27/10/2013. Ly hôn, chị yêu cầu được nuôi hai cháu và không yêu cầu anh G cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Ngày 15/11/2022, chị L có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Theo các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản đối chất, biên bản hòa giải có trong hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Nam G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị L tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau nên chung sống và đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2007. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, xung đột, từ năm 2018 hai vợ chồng không chung sống với nhau, nhưng anh vẫn còn tình cảm với chị L nên anh không đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày 25/11/2007, Nguyễn Nam Quốc S, sinh ngày 27/10/2013. Ly hôn, chị yêu cầu được nuôi hai cháu và không yêu cầu anh cấp dưỡng, anh đồng ý theo nguyện vọng của con.

Về tài sản chung: Anh đã chuyển nhượng cho chị L nên không còn tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu,; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng chưa đảm bảo theo quy định (Thông báo thụ lý vụ án ngày 05/10/2022 nhưng đến ngày 10/10/2022 mới tống đạt cho đương sự).

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị L là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị L được ly hôn với anh G. Về con chung: Giao con chung cho chị L nuôi dưỡng, tạm thời anh G không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: Chị L phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Nguyễn Thị L nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Nam G, sinh năm: 1985, địa chỉ: Tổ 16, ấp B, xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Về thủ tục tố tụng:

Chị L nộp đơn đúng trình tự thủ tục nên được thụ lý, giải quyết.

Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị L.

Về yêu cầu khởi kiện:

3.1 - Về quan hệ hôn nhân:

Chị L và anh G tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được UBND xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 73 ngày 12/11/2007 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án chị L kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh G, tuy nhiên anh G không đồng ý ly hôn, xét thấy chị L và anh G đều trình bày quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn và không chung sống từ năm 2018 đến nay. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng anh chị là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị L yêu cầu ly hôn với anh G là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2 - Về con chung:

Anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày 25/11/2007, Nguyễn Nam Quốc S, sinh ngày 27/10/2013. Ly hôn, chị L và anh G đồng ý giao cháu hai cháu cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh G không phải cấp dưỡng nuôi con và hai cháu cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ, nên Hội đồng xét xử giao hai cháu cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh G không phải cấp dưỡng nuôi con.

3.3 - Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010); Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với anh Nguyễn Nam G.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Nam G.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc A, sinh ngày 25/11/2007, Nguyễn Nam Quốc S, sinh ngày 27/10/2013 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Nguyễn Nam G không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Nam G được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Các đương sự trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có nên Tòa án không xem xét.

5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001674 ngày 03/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí.

6. Anh Nguyễn Nam G có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thị L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

7. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ