- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình A - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Đình A phạm tội:“Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 142 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 175/2021/HSST Ngày: 29/10/2021 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
-------------------------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.
Thẩm phán:
Bà Lê Thị Hiệu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Công Quyền – Nguyên giảng viên trường Chính trị Thanh Hóa
Bà Trịnh Thị Yên – Hội LHPN Thanh Hóa
Bà Đặng Thị Hồng – Tỉnh Đoàn Thanh Hóa
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Xuân Tú –Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Ông Lương Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 176/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2021/QĐXXST – HS ngày 12/10/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình A; Sinh năm 1973; Nơi ĐKTT: Thôn Lạc Long, xã Cẩm E, huyện CF, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: Thôn PL, xã CT, huyện CF, tỉnh Thanh Hóa; Dân tộc: Mường; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Con ông: Nguyễn Đình Tịnh (đã chết); Con bà: Bùi Thị Lai; Vợ: Lê Thị Lý (đã ly hôn); Con: Có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị can bị bắt tạm giữ từ ngày 13/6/2021, đến ngày 16/6/2021 chuyển tạm giam. Có mặt.
Người bào chữa: Bà Lê Thị Lộc – Luật sư Vp Luật sư Long Sơn, Đoàn luật sư Thanh Hóa.
Người bị hại: Cháu Lê Thị B, sinh ngày 24 tháng 02 năm 2013.
Địa chỉ: Thôn PL, xã CT, huyện CF, Thanh Hóa. Vắng mặt.
Đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Lê Thị C, sinh 1978 Địa chỉ: Thôn PL, xã CT, huyện CF, Thanh Hóa. Có mặt.
Người làm chứng: Có mặt
1. Chị Nguyễn Thị D, sinh 1971;
2. Cháu Nguyễn Đình E, sinh 23/5/2006
3. Ông Đỗ Văn F, sinh 1952
4. Cháu Lê Thị G, sinh 03/4/2005 Địa chỉ: Thôn PL, xã CT, huyện CF, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 12/6/2021, Nguyễn Đình A, sinh năm 1973 có hộ khẩu tại thôn Lạc Long, xã Cẩm Phú, huyện CF, tỉnh Thanh Hóa đang ở nhà chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1971, ở thôn PL, xã Cẩm Tân, huyện CF, tỉnh Thanh Hóa, (A và chị D sống như vợ chồng) thì nhìn thấy cháu Lê Thị B, sinh ngày 24/02/2013 là con gái của chị Lê Thị C, sinh năm 1978, ở bên cạnh nhà chị D, đang chơi trước nhà. A gọi cháu B vào nhà rồi bảo cháu mở tủ lạnh trong phòng ngủ của mình lấy xoài ăn. Khi A đi vào trong phòng nhìn thấy cháu B đang ngồi ăn xoài trên giường, thì liền khép cửa phòng lại rồi ngồi lên giường cạnh cháu B, bế cháu B ngồi lên phía đầu giường, sau đó bảo cháu nằm xuống với tư thế nghiêng người về bên trái, A nằm xuống phía sau lưng cùng chiều với cháu B. Sau đó A lấy tay cởi quần cháu B xuống ngang đầu gối rồi tự cởi quần của mình ra vắt lên đầu giường. A dùng tay phải cầm dương vật của mình cọ sát vào mông, âm hộ của cháu B khoảng 2 đến 03 phút. Do dương vật không cương cứng được nên A ngồi dậy bảo cháu B nằm ngửa và dạng chân ra, còn A quỳ gối xuống giường, dùng tay phải cầm dương vật của mình đút vào âm hộ của cháu B và thực hiện hành vi quan hệ tình dục. Trong lúc A đang thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu B thì cháu Lê Thị G (chị gái cháu B) đứng ở ngoài nhìn qua khe cửa thấy, nên cháu G mở cửa đi vào, lấy tay đẩy A ra khỏi người cháu B và chửi A rồi đưa cháu B đi về.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, giám định tổn tC về bộ phận sinh dục cháu Lê Thị B và các kết luận giám định khác.
Hiện trƣờng vụ án: Hiện trường xảy ra vụ án được xác định là nhà ở của gia đình chị Nguyễn Thị D, thuộc thôn PL, xã Cẩm Tân, huyện CF, tỉnh Thanh Hóa. Vị trí Nguyễn Đình A quan hệ tình dục với cháu Lê Thị B là trên chiếc giường gỗ kích thước (1,94 x 1,34) m, kê trong phòng ngủ thuộc khu nhà tiếp giáp sân về hướng Tây có mặt tiền quay về hướng Đông.
Biên bản xem xét dấu vết trên tG thể lập hồi 01h10' ngày 13/6/2021 tại Công an xã Cẩm Tân, huyện CF, tỉnh Thanh Hóa: Không phát hiện dấu vết gì trên cơ thể của Lê Thị B.
Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số TD 41/2021/TTPY ngày 18/6/2021 của Trung tâm Pháp y Thanh Hóa, kết luận:
Tại thời điểm giám định pháp y về tình dục đối với Lê Thị B: “Vùng đầu, mặt, cổ không thấy tổn tC; Vùng lưng, ngực, bụng không thấy tổn tC; Âm hộ không thấy tổn tC; Vú hai bên không thấy tổn tC; Mông hai bên không thấy tổn thương; Màng trinh không thấy tổn thương (Màng trinh không rách); Tầng sinh môn vị trí 6 giờ có vết rách ra nông kích thước (1 x 0,1) cm; Hậu môn không thấy tổn thương; Không tìm thấy tinh trùng và xác tinh trùng trên các mẫu dịch thu được từ bộ phận sinh dục của Lê Thị B; Không tìm thấy song cầu khuẩn trong các mẫu dịch thu được từ bộ phận sinh dục của Lê Thị B; Lê Thị B không có thai; Đã tiến hành thu mẫu dịch từ bộ phận sinh dục của cháu Lê Thị B để tìm dấu vết sinh học”. Cơ quan điều tra đã trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa giám định AND trên mẫu dịch thu được từ từ bộ phận sinh dục và trên bộ quần áo của cháu Lê Thị B có nhiễm sắc thể Y hay không, kết quả: Trên mẫu dịch và trên bộ quần áo thu của cháu Lê Thị B không có AND nhiễm sắc thể Y.
Bản kết luận giám định pháp y về AND số AND 89/2021/TTPY ngày 30/6/2021 của Trung tâm Pháp y Thanh Hóa, kết luận:
Trên mẫu tăm bông phết dịch từ bộ phận sinh dục của cháu Lê Thị B, sinh năm 2013, nơi cư trú thôn PL, xã CT, huyện CF, tỉnh Thanh Hóa không có AND nhiễm sắc thể Y.
Vật chứng của vụ án là: 01 (một) chiếc quần đùi của trẻ em dạng quần chun, xọc ngang màu đỏ xám, có hai túi bên hai hông quần, quần đã qua sử dụng; 01 (một) áo phông trẻ em màu vàng, phần cổ và hai bên ống tay có viền màu xanh, áo đã qua sử dụng; Các mẫu tóc của Nguyễn Đình A và tăm bông phết dịch của Lê Thị B.
Phần dân sự: Gia đình cháu Lê Thị B yêu cầu Nguyễn Đình A phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho cháu B với số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), đến nay bị can Nguyễn Đình A chưa bồi thường cho cháu Lê Thị B bất kỳ đồng nào. Đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị xử lý nghiêm bị can Nguyễn Đình A theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKS- P2, ngày 30/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố Nguyễn Đình A về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
* Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa:
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đình A về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị xử Nguyễn Đình A mức 20 năm tù
- Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận bị cáo bồi thường cho người bị hại 50.000.000đ.
* Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Luật sư thống nhất về tội danh và điểm, khoản, điều luật mà VKSND tỉnh Thanh Hóa đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị quyết định cho bị cáo nhẹ hơn hình phạt mà đại diện VKS đề nghị.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan CSĐT, điều tra viên Công an tỉnh Thanh Hóa, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện là hợp pháp.
Quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa của bị cáo xác định:
Tại phiên toà hôm nay, qua thẩm vấn công khai bị cáo Nguyễn Đình A thừa nhận: Khoảng hơn 14 giờ ngày 24/4/2021 khi A đang ở nhà chị Nguyễn Thị D ở thôn PL, xã CT, huyện CF, tỉnh Thanh Hóa một mình. Do ham muốn dục vọng, lợi dụng việc cháu Lê Thị B (8 tuổi 3 tháng 18 ngày) là con gái của chị Lê Thị C, là hàng xóm ở bên cạnh nhà chị D còn nhỏ, khả năng nhận thức còn hạn chế. A gọi cháu B vào trong phòng ngủ của mình để quan hệ tình dục với cháu.
Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ phản ánh tại hồ sơ và kết luận của đại diện Viện kiểm sát. HĐXX đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình A phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất vụ án: Trong những năm gần đây, tình trạng xâm phạm tình dục đối với phụ nữ, đặc biệt đối với trẻ em và những người chưa thành niên xảy ra khá phổ biến, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về sức khoẻ, về tâm, sinh lý của người bị hại, gây dư luận bức xúc trong nhân dân và đã trở thành vấn đề mang tính thời sự của xã hội.
Trong vụ án này, lợi dụng lợi dụng bị hại còn ít tuổi, không có khả năng để tự bảo vệ bản tG, bị cáo thực hiện hành vi giao cấu nhằm thoả mãn dục vọng của mình.
Hành vi phạm tội của Nguyễn Đình A có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, thể chất, tinh thần và sự phát triển bình thường của cháu Lê Thị B khi cháu chưa đủ 10 tuổi, vi phạm luật chăm sóc và bảo vệ trẻ em cũng như quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an địa phương, thuần phong mỹ tục và nếp sống văn hóa dân tộc, do đó cần phải xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và đường lối xử lý nghiêm khắc của pháp luật đối với loại tội xâm phạm tình dục phụ nữ và trẻ em, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì đầu thú, thành khẩn khai báo.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại Lê Thị B yêu cầu Nguyễn Đình A phải bồi thường tổn thất về tinh thần cho cháu B với số tiền 50.000.000đ. Tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý bồi thường số tiền trên. Việc thỏa thuận bồi thường là tự nguyện nên chấp nhận.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm, Bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm c Khoản 3 Điều 142; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Nguyễn Đình A phạm tội:“Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
Xử phạt: Nguyễn Đình A 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2021.
Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận sự thỏa thuận bị cáo bồi thường cho người bị hại 50.000.000đ.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định Điều 357, Khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình A phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án, người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -TAND Cấp cao. -VKSND Cấp cao -VKSND tỉnh Thanh Hóa -Công an tỉnh Thanh Hóa -Thi hành án tỉnh Thanh Hóa -Bị cáo, bị hại, đại diện bị hại -Lưu hồ sơ vụ án -Lưu VP Toà Hình sự | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Thị Dung |