vanban.org

Bản án 175/2021/DS-ST — Dân sự

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 14/07/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền 9.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản giữa ông Nguyễn Việt S với ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền 9.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2021/DS-ST
Ngày 14-7-2021
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Út.

Bà Đoàn Thị Sim.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 14 tháng 7 năm 2021 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 103/2021/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2021 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 254/2021/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Việt S, sinh năm 1977 (có mặt).

Cư trú tại: Khóm X, thị trấn C, huyện P, tỉnh C.

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1977 (vắng mặt).

2. Bà Võ Thị T (vắng mặt).

Cùng cư trú tại: Ấp G, xã N, huyện P, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 3 năm 2021 và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Việt S trình bày: Vào ngày 19 tháng 6 năm 2020 ông Nguyễn Văn H cùng vợ là bà Võ Thị T có mua của ông một ti vi hiệu LG 55 inch và một Micro còn nợ lại số tiền 8.400.000 đồng, ông H có ký tên vào biên nhận nhận nợ và hẹn ngày 19 tháng 7 năm 2020 sẽ trả tiền cho ông. Sau khi ký biên nhận nhận nợ đến nay ông H, bà T không trả tiền cho ông. Ông

-1-yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T trả cho ông số tiền 8.400.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật tính từ ngày 19 tháng 7 năm 2020 cho đến nay.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng H, bà T vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của ông Nguyễn Việt S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Việt S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T trả tiền mua điện thoại và lãi suất. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T.

Tại phiên tòa ông S cho rằng ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T có mua ti vi và Micro tại cửa hàng của ông còn nợ lại 8.400.000 đồng nên ông yêu cầu ông H, bà T trả cho ông số tiền 8.400.000 đồng. Đối với ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để xét xử nhưng ông H, bà T không cung cấp lời khai cho Tòa án và không có ý kiến đối với yêu cầu của ông S. Theo biên nhận nợ ngày 19 tháng 6 năm 2020 do ông S cung cấp có chữ ký của ông Nguyễn Văn H thể hiện ông H còn nợ ông S số tiền 8.400.000 đồng nên ông S yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T trả số tiền 8.400.000 đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ: Ông S yêu cầu ông H, bà T trả lãi suất cho chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là phù hợp với quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do các bên không có thỏa thuận về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ nên lãi suất được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, lãi suất là 10%/năm, lãi tháng là 0,833%, lãi ngày 0,028. Thời hạn tính lãi từ ngày 19 tháng 7 năm 2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 14 tháng 7 năm 2021 là 11 tháng 25 ngày, tiền lãi sẽ là (8.400.000 đồng x 11 tháng x 0.833%) + (8.400.000 đồng x 25 ngày x 0,028%) = 828.492. Tổng gốc và lãi là 9.228.492 đồng.

Về án phí: Do yêu cầu của ông Nguyễn Việt S được chấp nhận nên

-2-ông S không phải chịu án phí, ông S đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng được nhận lại. Ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 461.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt S. Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Việt S số tiền 9.228.492 đồng (chín triệu hai trăm hai mươi tám ngàn bốn trăm chín mươi hai đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Ông Nguyễn Việt S không phải chịu án phí, ông S đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0017266 ngày 01 tháng 4 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân; ông S được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 461.000 đồng (bốn trăm sáu mươi mốt ngàn đồng).

Án xử sơ thẩm, Ông Nguyễn Việt S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn H và bà Võ Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

-3-

Cỡ chữ