- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn P phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Ngô Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2020.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 175/2020/HS-ST Ngày 26 - 11 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thu Vân
Bà Đặng Thị Huê
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 202/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2020, đối với bị cáo:
Ngô Văn P (tên gọi khác: Ph); sinh năm 1977, tại P, tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: 25/49/13/3 N, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M và bà Nguyễn Thị L (chết); có vợ (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 05/12/1997, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh kết án 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, về tội “Cướp giật tài sản của công dân” (Bản án số: 441/HSST). Đã nộp án phí hình sự sơ thẩm vào tháng 3/1998.
- Ngày 11/12/1998, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh kết án 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản của công dân” (Bản án số: 223/HSST) và buộc chấp hành hình phạt 09 tháng tù của Bản án số: 441/HSST ngày 05/12/1997 đã cho hưởng án treo. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 18 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/11/1999.
- Ngày 19/9/2003, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kết án 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” (Bản án số: 1733/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/12/2006.
- Ngày 21/6/2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định đưa người nghiện ma túy vào Cơ sở xã hội Thanh Thiếu niên 2 để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2020 đến nay. (có mặt)
- Bị hại: Anh Nguyễn Hùng H, sinh năm 1999; nơi cư trú (hộ khẩu thường trú: Tổ 7, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang; chỗ ở: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An). (vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1969; nơi cư trú: Ấp M, xã K, huyện P, Thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 20 phút, ngày 19/6/2020, Ngô Văn P đi đến chợ B, Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm, xin việc làm. Đến khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 20/6/2020, P đi ngang vựa D (thuộc khu sơ chế rau phía sau nhà lồng H, Chợ B), thì phát hiện xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển số 59K1-415.48 đang dựng trước vựa, chìa khóa vẫn còn cắm trên xe và không có người trông coi. Thấy vậy, P nảy sinh ý định chiếm đoạt xe trên đem bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Sau đó, P đi đến đẩy xe lùi ra phía sau rồi lên xe nổ máy điều khiển bỏ chạy về hướng ngã ba đường A – đường R. Lúc này, ông Huỳnh Thanh N và anh Nguyễn Hùng H phát hiện nên truy hô, đồng thời anh H điều khiển xe gắn máy khác đuổi theo P. Khi đến trước vựa F3-007 nhà lồng F, Chợ B, anh H điều khiển xe chặn đầu xe gắn máy do P điều khiển, P xuống xe bỏ chạy được khoảng 04 mét thì bị anh H cùng bảo vệ chợ B là ông Nguyễn Quốc C hỗ trợ bắt giữ, đưa người cùng vật chứng về trụ sở Công an phường xử lý.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ
- đen, biển số 59K1-415.48 có giá là 3.000.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 8 đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với Ngô Văn P để điều tra về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Quá trình điều tra, Ngô Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Qua xác minh, xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 59K1-415.48 do ông Hứa Quốc P (sinh năm 1961, cư trú tại: 103/10 V, Phường 8, Quận 6) đứng tên đăng ký. Năm 2012, ông P bán xe cho ông Nguyễn Văn B (chủ vựa P), việc mua bán có lập hợp đồng công chứng tại Văn phòng Công chứng Sài Gòn nhưng chưa làm thủ tuc sang tên theo quy định. Ông B giao xe cho anh Nguyễn Hùng H (nhân viên của Ông B) quản lý, sử dụng làm phương tiện đi giao hàng, sau đó bị P chiếm đoạt. Ngày 06/8/2020, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và lập biên bản trả lại xe cho ông Nguyễn Văn B và anh Nguyễn Hùng H.
Trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn B và anh Nguyễn Hùng H đã nhận lại tài
sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.
Tại bản Cáo trạng số 194/CT-VKS ngày 22/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Ngô Văn P về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ngô Văn P về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 21 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị hại không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định vào khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 20/6/2020, tại trước vựa P (thuộc khu sơ chế rau, phía sau nhà lồng H, Chợ B, Phường 7, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh), bị cáo Ngô Văn P có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số 59K1-415.48 có trị giá là 3.000.000 đồng, đây là tài sản do anh Nguyễn Hùng H quản lý, sử dụng hợp pháp. Hành vi của bị cáo đã bị phát hiện, bắt quả tang.
Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Trộm cắp tài sản” như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Ngô Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Xét tính nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.
Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có cơ sở, đúng người, đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại, thuộc trường hợp “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn”. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Bị cáo đã nhiều lần bị kết án vào các năm 1997, 1998 và 2003, mặc dù không bị coi là án tích nhưng Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân bị cáo.
Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự, do bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng vụ án: Xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ - đen, biển số 59K1-415.48 là tài sản bị chiếm đoạt đã được cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng và lập biên bản trả cho bị hại. Đồng thời, bị hại không có ý kiến, yêu cầu liên quan đến việc tạm giữ, xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Ngô Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2020.
- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Ngô Văn P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKS ND Quận 8; - VKS ND TP. HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Nhà tạm giữ CA Quận 8; - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TA ND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PC53; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thanh |