vanban.org

Bản án 175/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 17/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngô Quang O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Ngô Quang O 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2019. (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BA - HS - Ngô Quang Oánh - 173K1 - T10-2019 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Quang O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 175/2019/HS-ST
Ngày: 17/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tạ Văn Đài.

2. Ông Đặng Quang Hoạch.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Đoàn Bích Thu – Thư ký Tòa án nhân

dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai:

Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 170/2019/HSST ngày 16 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2019/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2019/HSST-QĐ ngày 11 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Quang O, sinh năm 1984; tại Hải Dương; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 2, Khu phố 3, thị trấn VX, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở hiện nay: Ấp 4, xã ST, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Quang V, sinh năm 1960 và bà Đỗ Thị C, sinh năm 1960; có vợ tên: Trần Thị Hoài K, sinh năm 1989 và có 02 con (Con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

+ Ngày 06/6/2003, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng theo Quyết định số 44/QĐ-UB, về hành vi vi phạm pháp luật: Trộm cắp tài sản, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 03/5/2005.

+ Ngày 29/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo Bản án số: 49/2010/HSST ngày 29/9/2010. Đã chấp hành xong hình phạt ngày 20/9/2010.

Bị bắt giam ngày: 06/7/2019 (Có mặt).

- Bị hại:

1/ Bà Dương Thị H, sinh năm 2000.

Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã AV, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Tạm trú: Tổ 2, ấp 1, xã ST, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt).

2/ Bà Lê Thị H1, sinh năm 2002.

Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã AV, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Tạm trú: Tổ 2, ấp 1, xã ST, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

3/ Bà Đỗ Thị D, sinh năm 2000.

Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã AV, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Tạm trú: Tổ 2, ấp 1, xã ST, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Vũ Duy Q, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Số nhà 39 tổ 8, khu phố 1, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

2/ Bà Trần Thị Hoài K, sinh năm 1989.

Hộ khẩu thường trú: Thôn 3, xã TH, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

Địa chỉ: Ấp 4, xã ST, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 06/7/2019, Ngô Quang O đi ra tiệm tạp hóa gần nhà để mua thẻ cào điện thoại di động để nạp vào tài khoản chơi game trên điện thoại di động nhưng do các tiệm tạp hóa đã đóng cửa nên O đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. O đi bộ dọc theo đường liên ấp ST. Khi đi đến khu phòng trọ của bà Trần Thị Định thuộc tổ 3, ấp 1, xã ST, huyện Trảng Bom, O thấy cổng nhà trọ không khóa nên đi vào hành lang giữa hai dãy nhà trọ. Khi đi đến phòng số 23 của bà Dương Thị H, Lê Thị H1 và Đỗ Thị D thì phát hiện cửa sổ không chốt nên O lén lút mở cửa sổ ra thấy bà H và H1 đang nằm ngủ trên nệm dưới nền nhà, gần đó để hai điện thoại di động đang sạc pin. O lấy 01 móc phơi quần áo bằng kim loại và 01 áo thun đang phơi ngoài hành lang làm thành 01 cái vợt rồi luồn qua cửa sổ câu móc được 01 điện thoại di động Oppo F1S của bà H1 cất vào túi quần. Sau đó, O tiếp tục lấy 01 móc phơi quần áo khác bẻ gấp lại thành 01 cái móc rồi luồn qua cửa sổ mở chốt cửa phòng trọ, O lén lút đi vào trong trộm cắp 01 điện thoại di động Oppo F9 của bà H cất giấu vào túi quần. Sau đó O tiếp tục lục soát 04 túi xách treo trên tường và trộm cắp thêm 01 điện thoại di động hiệu Mobi Star của bà D. Lúc này thấy bà H đang ngủ say nên O đã lấy kéo ở khu vực bếp nấu ăn cắt rách quần đùi và quần lót của bà Hạnh rồi dùng tay sờ mông, sờ đùi bà H thì bà H tỉnh dậy phát hiện tri hô. Bị phát hiện O cầm vợt và móc bỏ chạy ra ngoài, dùng vợt che ống kính camera an ninh phòng trọ rồi bỏ chạy về nhà, sau đó tháo 03 sim trong 03 điện thoại vừa trộm cắp bán cho ông Vũ Duy Q, chủ tiệm tiệm mua bán điện thoại “Vũ Thịnh” ở khu phố 1, thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai được số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Sau khi sự việc xảy ra, bà H đến Công an xã ST trình báo sự việc, Công an xã ST đã ghi nhận sự việc lập hồ sơ ban đầu, đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ đến Công an huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, xác minh cũng như quá trình làm việc, O đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện Trảng Bom ngày 09/7/2019 kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9, 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S và 01 điện thoại di động hiệu Mobi Star có tổng giá trị định giá là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9, 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S và 01 điện thoại di động hiệu Mobi Star cùng 03 sim số điện thoại; 01 cây kéo bằng kim loại dài 20cm, 01 cái vợt tự chế từ móc phơi quần áo bằng kim loại và 01 cái áo thun màu xanh; 01 móc chế từ móc phơi quần áo bằng kim loại màu trắng dài 50cm; 01 quần đùi, 01 quần lót bị cắt thủng đáy và 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9, 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S và 01 điện thoại di động hiệu Mobi Star cùng 03 sim số điện thoại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả cho các chủ sở hữu là bà Dương Thị H, Lê Thị H1 và Đỗ Thị D.

Đối với 01 cây kéo bằng kim loại dài 20cm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả cho bà Dương Thị H.

Đối với số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) bán 03 điện thoại di động, bị cáo đã sử dụng hết số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) nhưng bà Trần Thị Hoài Kiều là vợ của O đã tự nguyện nộp số tiền trên. Số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) là của ông Vũ Duy Q mua 03 điện thoại di động của O nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã ra Quyết định trả lại cho ông Quý, ông Quý đã nhận lại số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và không có yêu cầu gì về phần dân sự.

Tại Cáo trạng số: 184/CT-VKS-TB ngày 12/9/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Ngô Quang O về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Ngô Quang O với mức án từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo O không nộp thêm tài liệu chứng cứ nào khác và đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo O không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, xét đã có đủ cơ sở để xác định: vào khoảng 02 giờ ngày 06/7/2019 tại ấp 4, xã ST, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Ngô Quang O đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Oppo F9 của bà Dương Thị H, 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S của bà Lê Thị H1 và 01 điện thoại di động hiệu Mobi Star của bà Đỗ Thị D có tổng giá trị định giá tài sản là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ngô Quang O phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử khi lượng hình cũng cần xem xét đến việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo nên cần áp dụng điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo để xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt thể hiện sự nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cái vợt tự chế từ móc phơi quần áo bằng kim loại và 01 cái áo thun màu xanh; 01 móc chế từ móc phơi quần áo bằng kim loại màu trắng dài 50cm; 01 quần đùi và 01 quần lót bị cắt thủng đáy do không còn giá trị sử dụng.

. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại bà Dương Thị H, Lê Thị H1 và Đỗ Thị D đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác. Ông Vũ Duy Q đã nhận lại 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và không yêu cầu gì về phần dân sự.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo O, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã ra Quyết định xử phạt hành chính. Đối với hành vi bị cáo dùng kéo cắt quần của bà Hạnh, bà Hạnh xác định bị cáo chưa có hành vi gì nên không yêu cầu giám định, không yêu cầu khởi tố đối với hành vi trên của bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

- Tuyên bố bị cáo Ngô Quang O phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Bị cáo Ngô Quang O 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/7/2019.

2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cái vợt tự chế từ móc phơi quần áo bằng kim loại và 01 cái áo thun màu xanh; 01 móc chế từ móc phơi quần áo bằng kim loại màu trắng dài 50cm; 01 quần đùi và 01 quần lót bị cắt thủng đáy.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ