- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thái Văn D phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Căn ứ vào điểm a khoản 4 điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 B luật hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 175/2018/HSST Ngày: 19 – 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang
Thẩm phán:
Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hồ Bá Võ
Ông Phạm Bá Xanh
Ông Nguyễn Văn Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Anh. Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Ông Ngô Văn Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 156/2018/TLST-HS, ngày 26 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 263/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
H và tên: Thái Văn D; Giới tính : Nam; Tên g i khá : Không; Sinh ngày 03/6/1991 tại huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ư trú: Xóm N (xóm 6), xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh; Quố tị h Việt Nam; Dân t : Kinh; Tôn giáo: Không; Trình đ văn hóa Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Kỹ sư xây dựng; Con ông Thái Văn H, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963; Vợ, on Chưa ó; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An từ ngày 23 tháng 07 năm 2018 đến nay.
- Nguyên đơn dân sự:
+ Công ty TNHH TM H; địa chỉ: số 08, đường N, phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Đại diện theo pháp luật Anh Nguyễn Đức H; chức vụ: Giám đốc công ty, Có đơn xin xét xử vắng mặt
- Người bị hại:
+ Anh Nguyễn Đức H; sinh năm 1980; trú tại: số 08, đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt
- người liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị Vân A; đại diện h kinh doanh dịch vụ cầm đồ Đ; địa chỉ: số 44 đường L, xã , thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có đơn xin xét xử vắng mặt
+ Chị Trần Thị Hà T; sinh năm 1994; trú tại Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt
+ Anh Lương Đình S; trú năm 1991; trú tại: Khối 12, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt
+ Anh Thái Hồng N; sinh năm 1992; trú tại: Xóm N (xóm 6), xã , huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
- Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bà Phan Thị Sự, Văn phòng luật sư Dung Sự và c ng sự, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, nhưng ó bài bào hữa gửi cho bị cáo và Tòa án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do làm ăn thua lỗ, nợ tiền của nhiều người và bị nhiều người thúc ép đòi nợ nên Thái Văn D, sinh ngày 03/6/1991, trú tại xóm N (xóm 6), xã , huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh đã nảy sinh ý định thuê xe ô tô tự lái của anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1980, trú tại Khối T, phường Hưng D, thành phố V, tỉnh Nghệ An làm giám đốc công ty Hiệp S với mụ đí h ầm cố lấy tiền để trả nợ. Cụ thể như sau
- Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 23/02/2017, Thái Văn D g i điện thoại cho anh Lương Đình S, sinh năm 1991, trú tại Khối 12, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An nhờ anh S thuê cho D m t chiếc xe ô tô tự lái để đi ông việc trong thời gian m t ngày, D nói với anh S là do bị mất chứng minh nhân dân nên không tự thuê xe được. Anh S đồng ý. Sau đó D đã g i điện thoại cho anh Nguyễn Đức H đặt vấn đề thuê xe ô tô tự lái. D nói với anh H là bằng lái xe ô tô của D đang bị Công an tạm giữ. Anh H không đồng ý cho thuê xe, D nói “Có thằng em đứng ra thuê xe ó được không?” thì anh H đồng ý.
Sau đó, anh S đi xe máy SIRIUS biển kiểm soát 37M1 – 6840 chở D đến gặp anh H. Tại đây, D nói muốn thuê xe ô tô để đi ông trình, người đứng ra làm hợp đồng thuê xe là anh S và anh S để xe máy lại làm vật thế chấp. Anh H đồng ý, cho thuê xe ô tô TOYOTA FORTUNER màu đen, biển kiểm soát 37A – 136.26; số máy: 2TR7672826; số khung: 59G4D9017835 từ ngày 23/02/2017 đến ngày 24/02/2017 với giá 950.000 đồng (chín trăm năm mươi ngàn đồng)/01 ngày. D là người thanh toán tiền thuê xe cho anh H.
Ngày 26/7/2017, do bị thúc ép trả nợ nên D đã đưa chiế xe trên đến gặp anh Nguyễn Đình P, sinh năm 1978, trú tại Xóm X, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An đề cầm cố. Anh P hỏi xe của ai thì D nói xe của D, giấy tờ xe đang cầm cố ở Ngân hàng. Anh Phong tin tưởng và nhận cầm cố chiếc xe trên với tổng số tiền là 210.000.000 đồng (hai trăm mười triệu đồng). Sau khi cầm cố xe, D lấy toàn b số tiền này để đi trả nợ.
- Vụ thứ 2: Khoảng 11 giờ ngày 12/8/2017, D g i điện thoại cho anh H thì anh H cho biết là anh H có việ gia đình nên không ó mặt ở công ty. Do biết anh Đinh Đức C, sinh năm 1991, trú tại khối 2, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An là người giúp D giám sát công trình thường thuê xe ô tô của anh H nên D nảy sinh ý định lừa thuê xe tiếp của anh H để cầm cố lấy tiền trả nợ. D đã đặt vấn đề với anh H muốn thuê xe ô tô đi ông trình và có anh C là nhân viên công ty đến đứng ra thuê. Anh H đồng ý, g i điện thoại cho anh Nguyễn Văn B là nhân viên công ty H nói “anh B làm sẵn hợp đồng ho thuê xe ô tô ho anh Đinh Đức C thuê”. Khoảng 14 giờ ngày 12/8/2017, D gặp anh Thái Hồng N, sinh năm 1992, trú tại xóm N (xóm 6), xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh (anh Ng c là em h của D) là nhân viên dưới quyền của D. D nói với anh Ng “ hú lại số 08, đường N thuê cho anh cái xe bán tải để anh ký hợp đồng trên Quỳ Hợp. Chú ký hợp đồng thuê xe tên thằng Cảnh nhé”. Anh N có hỏi lại D “sao không ký tên em?” thì D nói “Bằng lái chú bị giữ thì làm sao mà thuê đượ ” (trướ đó anh Ng c cho D mượn giấy phép lái xe ô tô và đã bị công an tạm giữ). Vì, D là anh h và tin tưởng D nhờ thuê xe để làm phương tiện đi lại nên anh Ng đã làm theo lời D. D đã đưa ho anh N 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) để anh N đặt c c tiền thuê xe ô tô. Khi anh N đến công ty H thì gặp anh B, anh B có hỏi: “Anh ó phải là Đinh Đức C không?” thì anh Ng c nhận mình là C. Anh B hỏi thời gian thuê xe thì anh N nói thuê 10 ngày. Anh B nói mỗi ngày tiền thuê xe là 800.000 đồng (tám trăm ngàn đồng). Sau đó anh B đã đưa hợp đồng cho anh N ký tên dưới hợp đồng là Đinh Đức C. Anh N đưa ho anh B 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) tiền c c thuê xe, anh B kiểm đếm và lấy 800.000 đồng (tám trăm ngàn đồng) òn 19.200.000 đồng (Mười chín triệu hai trăm ngàn đồng) đưa lại cho anh N. Anh B đã bàn giao hiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA HILUX; màu cam; biển kiểm soát: 37C – 241.75; số máy: 2GD8125659; số khung: SDD7G3508423. Sau đó anh N đã đưa hiếc xe trên và số tiền 19.200.000 đồng (mười chín triệu hai trăm ngàn đồng) cho D.
Ngày 12/5/2018, D đưa hiế xe trên đến gặp anh Phong để cầm cố lấy tiền trả nợ. Anh Ph hỏi chiếc xe này của ai thì D nói là xe của vợ D, cầm cố vài ngày là lấy. Anh P tin tưởng và nhận cầm cố chiếc xe trên với số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Sau khi cầm cố xe, D lấy toàn b số tiền đó đi trả nợ. Sau đó D nói với bạn gái của mình là chị Trần Thị Hà T, sinh năm 1994, trú tại Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình n i dung “Anh mượn xe bạn, bạn đồng ý ho đi ầm lấy tiền giải quyết công việc. Anh cầm chỗ anh P, anh P hỏi thì cứ nhận xe của em, vài ngày nữa anh giải quyết”. Khi anh P g i điện thoại cho chị T để hỏi về chiếc xe trên thì chị T đã nhận chị T là vợ D, chị T ũng nói với anh P là chiếc xe trên là của chị T, giấy tờ xe bị công an giữ.
Từ tháng 3/2018 đến ngày 8/6/2018 do Thái Văn D không trả tiền thuê xe cho anh H và anh H nhiều lần liên lạc yêu cầu đưa xe về trả nhưng D lấy lý do là đang đi ông trình rồi không trả nên anh Nguyễn Đứ Huy đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Thái Văn D.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 14/6/2018 của H i đồng định giá tài sản tỉnh Nghệ An kết luận:
“1. Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA; loại xe FORTUNER; màu sơn đen; Biển kiểm soát: 37A – 136.26; số máy: 2TR7672826; số khung: 59G4D9017835 (xe đã qua sử dụng) có mức giá: 700.000.000 đồng;
2. Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA; loại xe HILUX; màu sơn am; biển kiểm soát: 37C – 241.75; số máy: 2GD8125659; số khung SDD7G3508423 (xe đã qua sử dụng) có mức giá: 600.000.000 đồng;
Tổng c ng 2 xe có giá trị: 1.300.000.000 đồng (m t tỷ ba trăm triệu đồng)”.
* Vật chứng của vụ án:
- Ngày 08/06/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An lập biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu thu giữ hai chiếc xe ô tô “1. Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA; loại xe FORTUNE; màu sơn đen; Biển kiểm soát: 37A – 136.26; số máy: 2TR7672826; số khung 59G4D9017835 (xe đã qua sử dụng); 2. Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA; loại xe HILUX; màu sơn am; biển kiểm soát: 37C – 241.75; số máy: 2GD8125659; số khung SDD7G3508423 (xe đã qua sử dụng)”
- Ngày 28/7/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An ra Quyết định xử lý vật chứng số 1589 về việc trả lại hai chiếc xe ô tô nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1980, trú tại Khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
* Về dân sự:
Anh Nguyễn Đứ H, Giám đố Công ty TNHH TM H là bị hại và đại diện cho Công ty đã nhận số tiền 150.000.000 đồng (m t trăm năm mươi triệu đồng) tiền thuê 02 xe ô tô do gia đình bị cáo D trả, nên không yêu cầu bồi thường dân sự.
Anh Nguyễn Đình P chủ ơ sở Cầm đồ Đ ó đơn yêu ầu ó đơn yêu ầu Thái Văn D đền bù số tiền 410.000.000 đồng (Bốn trăm mười triệu đồng) là tiền D đã lừa cầm cố 02 xe ô tô. Hiện nay, Thái Văn D đã tá đ ng gia đình trả lại toàn b số tiền vay cho anh P.
Bản cáo trạng số184/VKS - P2 ngày 25 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Thái Văn D về t i “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 B luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên n i dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị H i đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s, b khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 B luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Thái Văn D từ 7 đến 8 năm tù về t i “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự gia đình bị áo đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên không xem xét.
Về vật chứng và án phí, đề nghị H i đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Luật sư bào hữa cho bị cáo Thái Văn D đề nghị: Về t i danh thì bị áo đã thừa nhận nên không có ý kiến tranh luận. Về mức hình phạt, bị cáo khai báo thành khẩn, đã khắc phục toàn b thiệt hại, bị cáo có bố tham gia chiến tranh bảo về Tổ quố đượ Nhà nướ khen thưởng, người bị hại ó đơn đề nghị giảm án cho bị cáo. Do đó, đề nghị H i đồng xét xử quyết định mức án nhẹ hơn mức án mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo.
Bị cáo Thái Văn D đồng ý với quan điểm của luật sư bào hữa và không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa.
Bị cáo Thái Văn D nói lời nói sau cùng: bị cáo biết mình vi phạm pháp luật, nay rất ăn năn hối cải, xin lỗi những bị hại và những người cho bị cáo vay tiền, xin H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên ơ sở n i dung vụ án, ăn ứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau
Tại phiên tòa, bị cáo Thái Văn D hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm t i như áo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Lời nhận t i của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người bị hại, nguyên đơn dân sự. Như vậy ó đủ ăn ứ khẳng định: Do làm ăn thua lỗ, nợ nần nhiều và bị nhiều người thúc ép đòi nợ nên Thái Văn D bằng thủ đoạn gian dối đến Công ty TNHH TM H để thuê xe hai chiếc xe ô tô làm phương tiện đi công trình nhưng đem đi vào hiệu cầm đồ của anh Nguyễn Đình P để cầm cắm lấy tiền trả nợ. Tổng giá trị Thái Văn D đã hiếm đoạt của anh Nguyễn Đức H 02 chiếc xe ô tô theo kết luận của H i đồng định giá UBND tỉnh Nghệ An có số tiền 1.300.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Thái Văn D bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố về t i “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 điều 174 B luật hình sự năm 2015 là ó ăn ứ, đúng người, đúng t i, đúng pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của các bị cáo:
Đối với bị cáo Thái Văn D đã nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối thuê xe ô tô tự lái rồi cầm cố xe để trả nợ. Đây là tình tiết tăng nặng “phạm t i 2 lần trở lên” đượ quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 B luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Thái Văn D ó thái đ khai báo thành khẩn, nhân thân bị áo hưa ó tiền án, tiền sự, bị cáo có bố là ông Thái Văn H là b đ i tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ Quố , được Nhà nướ khen thưởng, bị áo đã tự nguyện khắc phục toàn b thiệt hại, được bị hại ó đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại á điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 B luật hình sự năm 2015.
Xét tính chất vụ án thấy rằng:
Trong vụ án này, bị cáo Thái Văn D đã nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối thuê xe ô tô tự lái rồi đưa đi ầm cố xe để chiếm đoạt với số tiền rất lớn là 1.300.000.000 đồng. Hành vi phạm t i của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i và thu c trường hợp đặc biệt nghiêm tr ng, hành vi phạm t i của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khá được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng nghiêm tr ng đến cu c sống, gây tâm lý hoang mang cho xã h i, nếu không bị phát hiện kịp thời thì sẽ có thể bị cáo còn tiếp tục lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác nữa. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo m t mức án thật nghiêm khắc và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t thời gian dài để bị cáo nhận thứ được hành vi phạm t i của mình và cố gắng lao đ ng, cải tạo để trở thành người có ích cho xã h i.
Tuy nhiên, H i đồng xét xử thấy rằng bị áo là người ó trình đ và nhận thức xã h i, trước khi phạm t i bị áo đang thi ông á ông trình xây dựng, nhưng do thiếu vốn và trả nợ trong quá trình thi ông nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt 02 chiếc xe ô tô, nay tài sản đã được thu hồi và trả lại cho chủ sử hữu. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tính chất t i phạm ít nguy hiểm, do đó ần áp dụng Điều 54 B luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với hành vi và tính chất phạm t i của bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị áo đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu, không thu lợi bất chính, không có tài sản, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không ó khả năng thi hành hình phạt bổ sung. Do đó, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Thái Văn D.
Về trách nhiệm dân sự:
Trong quá trình truy tố, xét xử gia đình bị áo đã bồi thường toàn b cho người bị hại và người có quyền lợi liên quan, nay bị hại và người liên quan có đơn đề nghị không bu c bị cáo phải bồi thường và trả nợ. Xét thấy, đây là sự tự nguyện và không trái pháp luật nên chấp nhận và không xem xét về dân sự.
Về vật chứng của vụ án: Vật chứng là 02 chiế xe ô tô Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên H i đồng xét xử không xem xét.
Đối với anh Lương Đình S và Thái Hồng N là người đã đến Công ty H thuê xe để cho D đi ầm cố lấy tiền. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác định anh S và anh Ng c giúp D thuê xe ô tô để D làm phương tiện đi lại làm công trình và không biết mụ đí h ủa D thuê xe ô tô để đi ầm cố lấy tiền nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với chị Trần Thị Hà T là người đã nhận chiếc xe ô tô TOYOTA HILUX biển kiểm soát 37C – 241.75 là của mình nhằm tạo niềm tin cho D đi cầm cố. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Nghệ An đã tiến hành điều tra xá định Trang không biết D đi thuê xe ô tô tự lái là để cầm lấy tiền nên Trang không chịu trách nhiệm hình sự.
Đối với anh Nguyễn Đình P, h cầm đồ Đ là người đã ầm cố hai chiếc xe ô tô mà Thái Văn D mang đến. Cơ quan điều tra xá định khi D mang hai chiếc xe ô tô để cầm cố D đã nói với anh Phong đó là xe ủa mình và còn m t cái là xe của vợ. Anh P không biết những chiếc xe trên là do D phạm t i mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Nhưng việc nhận cầm đố đối với xe ô tô mà không có giấy tờ theo quy định là vi phạm pháp luật. Do đó, cần phải có kiến nghị đến á ơ quan hứ năng xem xét về quản lý hành chính đối với H kinh doanh dịch vụ cầm đồ Đại Phong; địa chỉ: số 44 đường L, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan ảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tụ quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ó người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của ơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, á hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn ứ vào điểm a khoản 4 điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 B luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Thái Văn D 07 (bảy) năm tù về t i “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/7/2018. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Thái Văn D.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị áo đã bồi thường và trả nợ các khoản vay ho người bị hại và người liên quan nên Tòa án không xem xét.
4. Về án phí Căn ứ Nghị quyết sô 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bu c bị cáo Thái Văn D phải nạp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà N i trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm.
Đối với người bị hại, nguyên đơn dân sự, người liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại HN - VKSND tỉnh Nghệ An - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An - Cục THADS tỉnh Nghệ An - Người tham gia tố tụng - Bị cáo, luật sư - UBND phường H.D, TP Vinh, - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Trang |