- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Tấn Đ - Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Trương Tấn Đ 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2025.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 174/2025/HSST. Ngày: 26 – 11 – 2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lê Văn Mỹ;
2/ Ông Tô Thành Thật.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Mai – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Doãn Đình Khánh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 0169/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2025/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Trương Tấn Đ; giới tính: nam; sinh năm: 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 079092021059 Thường trú: Nhà số C đường L, phường N (Phường A, Quận C cũ), Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: 1 H, phường T (Phường A, quận T cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh, tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trương Tấn T (đã chết) và con bà Kiều Thị Kim A; có vợ là Lê Lưu Khắc Mỹ K và 02 người con (lớn sinh năm: 2018, nhỏ sinh năm: 2020). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/3/2025. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà MOLOSSTOVA MARINA, sinh ngày: 10/8/1996 (có mặt)
Địa chỉ: 5 P, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bào chữa cho bị cáo Trương Tấn Đ: Bà Lưu Thị Quỳnh T1 – Luật sư thuộc Công ty L – Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)
Địa chỉ: 2 Đ, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người phiên dịch: Ông Võ Huỳnh T2, sinh năm 1992 – Thông dịch viên thuộc Công ty TNHH D (có mặt)
Địa chỉ: 1 L, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 15/3/2025, Trương Tấn Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario biển số: 59S3-642.78 đi qua các tuyến đường trên địa bàn Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến 02 giờ 27 phút cùng ngày, Đ đi từ đường P, quận B rẽ vào đường M hướng ra B. Khi đi đến trước nhà số B M, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh thì Đ phát hiện bà MOLOSSTOVA MARINA (quốc tịch Nga) đang đi bộ giữa đường M, hướng ngược lại, trên người có đeo chéo một túi vải. Đ điều khiển xe áp sát, dùng tay trái giật đứt dây túi vải của bà MOLOSSTOVA MARINA, sau đó tăng ga bỏ chạy. Sau khi cướp giật tài sản, Đ chạy xe hướng ra đường N - N. Khi chạy đến địa chỉ B N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, Đ nhìn xuống túi vải thấy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro rơi ra chỗ để chân nên Đ vừa chạy xe, vừa cúi xuống lấy điện thoại bỏ lên hộc bên trái xe, còn cái túi vải Đ dùng chân đá xuống đường rồi chạy thẳng về nhà ngủ tại địa chỉ: 1 H, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi về nhà, Đ để điện thoại trên tủ gỗ trong nhà.
Sau khi bị cướp giật tài sản, bà MOLOSSTOVA MARINA đến Công an P, quận B trình báo sự việc. Đến 01 giờ 15 phút ngày 16/3/2025, Cơ quan công an mời Đ về trụ sở để làm việc và thu giữ điện thoại di động do Đ cất giấu tại nhà. Tại Cơ quan điều tra, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận B kết luận tại thời điểm ngày 15/3/2025: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro dung lượng 64G có giá trị 6.000.000 đồng, 01 bộ sạc tai nghe hiệu Airpob Pro có giá trị 800.000 đồng, 01 túi vải không xác định được giá trị.
Thu giữ, xử lý vật chứng:
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số: 59S3-642.78, do Đ đứng tên chủ sở hữu là phương tiện mà Đ sử dụng để cướp giật tài sản.
- 01 quần màu đen, 01 áo màu đen, 01 túi đeo chéo, 01 nón bảo hiểm là trang phục Đ mặc khi cướp giật tài sản.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro là tài sản bị cướp giật của bà MOLOSSTOVA MARINA. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà MOLOSSTOVA MARINA.
- 01 điện thoại IPhone 16 Promax là tài sản cá nhân của Đ, không dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
- Số tiền 800.000đ bồi thường thiệt hại của bị cáo Trương Tấn Đ (do mẹ bị cáo là bà Kiều Thị Kim A nộp thay theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0041906 ngày 25/11/2025).
Trách nhiệm dân sự: Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại tài sản cho bị hại bà MOLOSSTOVA MARINA. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về sạc tai nghe và túi vải. Tại phiên tòa, người bị hại xác nhận đã nhận đủ tiền bồi thường bộ sạc tai nghe, không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Bản cáo trạng số 23/CTr-VKSBTh ngày 27 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trương Tấn Đ về tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm, theo quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích nội dung vụ án, những tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, các tình tiết định tội, định khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trương Tấn Đ từ 04 năm tù đến 05 năm tù.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trương Tấn Đ thống nhất với việc truy tố và hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa luận tội, tuy nhiên luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình và các tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo đã chủ động bồi thường cho bị hại, tại phiên tòa ngày hôm nay người bị hại xác nhận bị cáo đã bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì thêm. Cáo trạng xác định bị cáo phải bồi thường thiệt hại số tiền 800.000 đồng, bị cáo đã tích cực tác động mẹ bị cáo có đơn xin bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả và đã đóng số tiền bồi thường thiệt hại trên tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực E, Thành phố Hồ Chí Minh nên kính đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, khoản 1 Điều 51 BLHS. Mẹ bị cáo tham gia nhiều phong trào tại địa phương, có nhiều giấy khen. Bị cáo bộc phát thực hiện hành vi phạm tội, không có mục đích gì; bị cáo có hoàn cảnh gia đình mẹ già bị bệnh ung thư, các con của bị cáo còn nhỏ kính đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51. Từ những phân tích, tình tiết giảm nhẹ ở trên, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh tranh luận: Viện kiểm sát đồng ý áp dụng cho bị cáo Đ tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 51, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội đối với người nước ngoài làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh, đất nước và con người Việt Nam đối với thế giới nên mức án Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ, không thể giảm hơn theo đề nghị của luật sư. Việc Luật sư đề nghị xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo sẽ do Hội đồng xét xử quyết định.
Viện kiểm sát không tranh luận gì thêm và giữ nguyên quan điểm truy tố của mình như đã trình bày. Luật sư không tranh luận gì thêm sau tranh luận của đại diện Viện kiểm sát.
Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm, xác nhận đã nhận đủ tiền bồi thường bộ sạc tai nghe và có ý kiến đối với mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là khá cao.
Tại phiên tòa, bị cáo thấy hành vi của mình là sai trái, rất ăn năn hối cải, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của người bị hại và các chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã xác định như sau:
Khoảng 02 giờ 27 phút, ngày 15/3/2025, tại cửa hàng nhà số B đường N, Phường A, quận B (cũ), Trương Tấn Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vario biển số: 59S3-642.78 thực hiện hành vi cướp giật 01 túi xách vải của bà MOLOSSTOVA MARINA bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu xanh, dung lượng 64G trị giá 6.000.000 đồng; 01 bộ sạc Airpod trị giá 800.000 đồng.
Do đó, hành vi phạm tội trên đây của bị cáo Trương Tấn Đ đã cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, khoản 2Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017.
Về động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét bị cáo Trương Tấn Đ là công dân có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bằng ý thức của mình, bị cáo biết rõ đó là tài sản đang thuộc sở hữu của người khác, nhưng do lười lao động mà lại muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở về cách quản lý tài sản của chủ sở hữu để thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự quản lý xã hội của Nhà nước, gây tác động xấu đến đời sống xã hội, gây hoang mang lo lắng cho nhân dân khi tham gia lưu thông trên đường phố. Hành vi cướp giật tài sản còn có thể gây nguy hại đến sức khỏe, sinh mạng của con người khi bị cáo cố tình trốn chạy sự truy đuổi của người dân và cơ quan chức năng nên Hội đồng xét xử cần phải có một hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Tấn Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo Đ đã chủ động bồi thường cho bị hại, được bị hại xác nhận và không có yêu cầu gì khác, xét lời bào chữa của Luật sư cho bị cáo đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS và được Đại diện Viện kiểm sát đồng ý, Hội đồng xét xử xét thấy là có cơ sở một phần nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo Đ.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại xác nhận đã nhận đủ tiền bồi thường đối với bộ sạc tai nghe nên không có yêu cầu gì thêm.
Về thu lợi bất chính: Không có.
Về xử lý vật chứng:
- 01 quần màu đen, 01 áo màu đen, 01 túi đeo chéo, 01 nón bảo hiểm là trang phục bị cáo Đ mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số: 59S3-642.78. Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản do bị cáo Đ đang sử dụng và sở hữu, bị cáo biết và chủ động dùng xe vào việc thực hiện hành vi phạm tội cướp giật tài sản nên Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- 01 điện thoại IPhone 16 Promax là tài sản cá nhân của Đ, không dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo Đ.
- Trả lại số tiền 800.000 cho bị cáo Đ do mẹ bị cáo là bà Kiều Thị Kim A nộp thay theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0041906 ngày 25/11/2025.
Các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử ghi nhận và miễn xét.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d, khoản 2, Điều 171; điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Trương Tấn Đ 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 17/3/2025.
2. Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy 01 quần màu đen, 01 áo màu đen, 01 túi đeo chéo, 01 nón bảo hiểm.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda Vario biển số: 59S3-642.78, loại xe: hai bánh từ 50 – 173 cm3, nhãn hiệu Honda, số loại Vario 160, màu sơn Đen. Số máy KFA1E1007031, số khung; MH1KFA111NK004827, dung tích xi lanh: 156,93 cm3.
- Trả lại cho bị cáo Trương Tấn Đ 01 điện thoại IPhone 16 Promax; 800.000 (tám trăm nghìn) đồng.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/11/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực E, Thành phố Hồ Chí Minh và Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0041906 ngày 25/11/2025).
3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Trương Tấn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực E, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Trương Tấn Đ, bị hại bà Molosstova M được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - VKSND Khu vực 5, Tp.HCM; - Công an Tp.HCM; - Trại tạm giam số 2 – Phân trại tạm giam Thông Tây Hội; - Phòng THADS khu vực 5, TP.HCM; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thanh Mười |