vanban.org

Bản án 174/2023/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 17/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Xử phạt bị cáo Phan Văn Th: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Văn Th phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2023/HS-ST
Ngày: 17 - 5- 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.

2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại Dện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 158/2023/HSST ngày 24 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Phan Văn Th, sinh năm: 1996, tại Quảng Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ X, thôn L, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Số X đường N, Khu phố Y, phường B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Phan Văn L, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị H (©); bị cáo là con duy nhất trong gia đình; vợ: Phạm Vương Mỹ Ph, sinh năm 2000 và có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 03/10/2022 đến ngày 17/01/2023 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Nguyễn Thành D, sinh năm 2004.

Địa chỉ: Đường X, Khu phố Y, phường B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Đường X, Khu phố Y, phường B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

2. Chị Phạm Vương Mỹ Ph, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Số X đường N, Khu phố Y, phường B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Dễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 01/10/2022, chị Phạm Vương Mỹ Ph (sinh năm: 2000) cùng bạn là chị Nguyễn Nguyệt H (sinh năm 2000) và chị Trần Thị Ngọc H (sinh năm 1997) đến quán ốc địa chỉ số 226, đường Nguyễn Thị Định, Khu phố 3, phường Bình Trưng Tây, thành phố Thủ Đức để uống bia. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, có anh Nguyễn Thành D (sinh năm 2004) và anh Nguyễn Thành L (sinh năm 2000) đến quán ốc 226 để uống bia và ngồi bàn sát bên bàn của nhóm Ph. Trong lúc uống bia, do nhóm của Ph cho rằng nhóm anh D chọc ghẹo mình nên giữa 02 nhóm có xảy ra cự cãi với nhau. Lúc này, Ph nhắn tin Phan Văn Th (sinh năm 1996, chồng Ph) nhưng không được. Khoảng 05 phút sau, trong lúc Ph đang đi vệ sinh thì Th điện thoại cho Ph hỏi có chuyện gì thì Ph nói đang ngồi nhậu bị 02 thanh niên bàn bên cạnh chọc ghẹo và 02 thanh niên này có gọi người thêm đến nhậu, sợ có việc trêu ghẹo thêm nên Ph kêu Th đến quán để đưa về. Th nghe xong nói “đợi chút” rồi tắt máy, sau đó Th lấy 01 con dao dài 42cm dùng để chặt dừa tại quán sinh tố của Th giấu vào áo khoác rồi điều khiển xe môtô hiệu Honda Do, biển số: 59EA- 006.06 đi đến quán ốc 226. Đến 22 giờ 10 phút cùng ngày, khi Th vừa đến trước quán ốc thì nhìn thấy anh D đang ngồi trên xe môtô hiệu Yamaha Exciter 135 đời 2011 màu xanh trắng biển số: 60B8-376.68 và anh L đang đứng kế xe môtô chuẩn bị lấy xe đi về, Th để xe môtô bên kia đường rồi chạy bộ đến chỗ anh D, anh L, Th dùng tay phải lấy con dao giấu trong áo khoác ra chém trúng 01 nhát ở hông trái anh D gây thương tích, anh D và anh L bỏ chạy, Th cầm con dao đuổi theo khoảng 02-03m thì quay lại quán và chém 03 nhát vào xe môtô của anh D làm hư hỏng bợ trước, sau đầu đèn, cụm đồng hồ công tơ mét, ốp lườn trái, yên xe môtô của anh D sau đó Th bỏ về nhà tại số 202, đường Nguyễn Duy Trinh, Khu phố 3, phường Bình Trưng Tây, thành phố Thủ Đức. Anh D được đưa đến Bệnh viện Lê Văn Thịnh cấp cứu. Ngày 02/10/2022, anh D đến Công an phường Bình Trưng Tây trình báo và có đơn yêu cầu xử lý hình sự. Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã mời Phan Văn Th về làm việc.

Kết luận giám định pháp y số 898 ngày 07/11/2022 của Trung tâm pháp y Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh kết luận đối với thương tật của anh Nguyễn Thành D là 13%, không nguy hiểm đến tính mạng.

Kết luận định giá tài sản số 226 ngày 18/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết luận: Xe môtô biển số: 60B8-376.68 bị hư hỏng 05 bộ phận, có tổng trị giá 973.000 đồng.

Quá trình điều tra, Th khai nhận toàn bộ hành vi như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng vụ án:

- 01 USB ghi nhận hình ảnh sự việc (lưu theo hồ sơ);

- 01 con dao dài 42cm, cán bằng gỗ tròn dài 12cm, lưỡi dài 30 cm; 01 áo khoác dài tay có nón vải thun màu trắng đen;

- 01 môtô hiệu Yamaha Exciter 60B8-376.68 do anh Nguyễn Văn Chiến (Sinh năm 1994, nơi thường trú: ấp Phú Hiệp, xã Phú Hữu, huyện An Phú, tỉnh An Giang) đứng tên chủ sở hữu. Hiện nay, anh Chiến không có mặt tại địa Ph đi đâu, làm gì không rõ nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra chưa làm việc được. Anh Nguyễn Thành D khai báo chiếc xe môtô trên anh mua lại vào tháng 9/2022 của 01 thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 8.000.000 đồng để làm Ph tiện đi lại, không làm thủ tục sang tên xe;

- 01 xe môtô hiệu Honda Do, biển số: 59EA-006.06, số khung: không có, số máy: AF18E2530073. Qua xác minh biển số xe 59EA-006.06 do anh Lê Quốc Thắng (sinh năm 2000, nơi thường trú: 5/7A, Khu phố 6, thị trấn Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên chủ sở hữu. Làm việc anh Thắng được biết, hiện anh Thắng đang sở hữu 01 xe môtô hiệu Honda Do biển số: 59EA- 006.06, số máy: AF34E1083844, số khung: AF341071058 và anh Thắng có giấy đăng ký xe và giấy tờ mua bán xe.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố Thủ Đức ra Quyết định trưng cầu giám định xe môtô hiệu Honda Do có số máy: AF18E2530073, số khung: không có. Kết quả giám định số 6325/KL-KTHS số máy: AF18E2530073, số khung bị cắt mất số khung. Kết luận giám định số 6804/KL-KTHS biển số: 59EA-006.06 là giả. Th khai xe mô tô hiệu Honda Do biển số: 59EA-006.06 do Th mua cũ lại của 01 thanh niên (không rõ lai lịch) vào tháng 3/2020 với giá 7.500.000 đồng về sử dụng làm Ph tiện đi lại, khi bán có làm giấy mua bán viết tay và giao giấy đăng ký xe cho Th giữ. Hiện Th khai đã làm rớt mất giấy mua bán xe và giấy đăng ký xe.

Về trách nhiệm dân sự: Ngày 19/11/2022, gia đình Th đã bồi thường số tiền 28.973.000 đồng cho bị hại D, bị hại có đơn đề nghị rút đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Th.

Cáo trạng số: 160/CT-VKSTPTĐ ngày 13/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Văn Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong phần tranh luận, đại Dện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn Th từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách gấp đôi thời hạn tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận ra lỗi lầm của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có cơ hội lao động, nuôi vợ con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị bại, người làm chứng, kết quả giám định thương tích, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 01/10/2022, tại trước quán ốc địa chỉ: Số 226, đường Nguyễn Thị Định, Khu phố 3, phường Bình Trưng Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, do hiểu lầm nên Phan Văn Th đã có hành vi sử dụng tay phải cầm 01 con dao chém trúng 01 nhát vào hông trái anh Nguyễn Thành D gây thương tích 13%, sau đó đã bị bắt.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa Ph, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì hiểu nhầm, không làm chủ được bản thân nên bị cáo đã dùng dao chém gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ thương tật 13%. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Phạm Vương Mỹ Ph do không biết và không tham gia việc Th sử dụng dao chém anh D nên chưa đủ căn cứ xử lý hình sự.

Đối với hành vi Th dùng dao chém hư hỏng 05 bộ phận xe môtô biển số: 60B8-376.68 của anh Nguyễn Thành D, do tài sản bị hư hỏng trị giá 973.000 đồng, chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13% nên thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu, được bị hại bãi nại, rút yêu cầu xử lý hình sự nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, đã bồi thường thiệt hại và được bị hại bãi nại. Bên cạnh đó, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Kiểm sát viên cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và pháp luật.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 con dao dài 42cm, cán bằng gỗ tròn dài 12cm, lưỡi dài 30 cm là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 áo khoác dài tay có nón vải thun màu trắng đen là đồ dùng cá nhân của bị cáo nhưng bị cáo không đồng ý nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter 135 đời 2011 màu xanh trắng biển số: 60B8-376.68, số máy: 55P1238737, số khung: RLCE55P10DY238730 bị hư hỏng bợ trước, sau đầu đèn, cụm đồng hồ công tơ mét, ốp lườn trái, yên xe do anh Nguyễn Thành D khai báo chiếc xe môtô trên anh mua lại vào tháng 9/2022 của 01 thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 8.000.000 đồng để làm Ph tiện đi lại, không làm thủ tục sang tên xe. Xét đây là tài sản cá nhân của anh D nên trả lại cho anh Nguyễn Thành D.

- Đối với 01 xe môtô hiệu Honda Do, kết quả giám định số 6325/KL-KTHS số máy: AF18E2530073, số khung bị cắt mất. Bị cáo Th khai mua cũ lại của 01 thanh niên (không rõ lai lịch) vào tháng 3/2020 với giá 7.500.000 đồng về sử dụng làm Ph tiện đi lại, khi mua bán có làm giấy mua bán viết tay và giao giấy đăng ký xe nhưng đã làm rớt mất. Tại phiên tòa, bị cáo Th không đồng ý nhận lại xe này nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

- Đối với biển số: 59EA-006.06, Kết luận giám định số 6804/KL-KTHS xác định đây là biển số giả nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 USB ghi nhận hình ảnh sự việc là dữ liệu điện tử chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

- Xử phạt bị cáo Phan Văn Th: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Bình Trưng Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dài 42cm, cán bằng gỗ tròn dài 12cm, lưỡi dài 30 cm; 01 áo khoác dài tay có nón vải thun màu trắng đen; biển số: 59EA-006.06.

- Trả lại cho anh Nguyễn Thành D: 01 xe môtô hiệu Yamaha Exciter 135 đời 2011 màu xanh trắng biển số: 60B8-376.68, số máy: 55P1238737, số khung: RLCE55P10DY238730 bị hư hỏng bợ trước, sau đầu đèn, cụm đồng hồ công tơ mét, ốp lườn trái, yên xe.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe môtô hiệu Honda Do, số khung: không có, số máy: AF18E2530073.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 75/QĐ-VKSTĐ ngày 30/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Phiếu nhập kho số NK23/170C ngày 17/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Bị cáo có tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích về chế định án treo)

Cỡ chữ