vanban.org

Bản án 174/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 15/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn L 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 28/02/2023. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 579, Điều 589, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự; buộc bị cáo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Văn L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 30 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HUẾ
TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2023/HS-ST
Ngày: 15 – 6 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Thủy.

Ông Tôn Thất Quý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trọng Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2023, tại hội trường xét xử 1, trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh T (60 đường Nguyễn Huệ) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Hồ Văn L, sinh ngày 21 tháng 5 năm 1989 tại tỉnh T. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh K. Nơi tạm trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ D, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1966; vợ Ngô Thị T, sinh năm 1990 (đã ly hôn), con: Có 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, học văn hóa đến lớp 6/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Sau đó đến cư trú tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh T và thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/02/2023 tại nhà tạm giữ Công an thành phố Huế cho đến nay – có mặt.

- Bị hại: Họ Nguyễn.

Người đại diện hợp pháp của Họ Nguyễn:

+ Ông Nguyễn S, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn P, xã P, thành phố Huế, tỉnh T

- vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn L, xã P, thành phố Huế, tỉnh T - vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1987. Địa chỉ: 246 K, phường T, thành phố Huế, tỉnh T - vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Ông Mai Thanh T, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ 8, khu vực 4, phường H, thành phố Huế, tỉnh T - có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Văn L đến tạm trú tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh T. Trong quá trình sinh sống, do cần tiền sử dụng cá nhân nên L nảy sinh ý định đột nhập vào các nhà tại thờ họ tại xã P, thành phố Huế, tỉnh T, để lấy trộm tài sản bán lấy tiền. Thực hiện ý định, vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 27/02/2023, L đi bộ đến nhà thờ họ Lê, tại xóm 8, thôn L, xã P, thành phố H; L leo tường rào đột nhập vào bên trong nhà thờ, nhặt 01 cái bao, 01 cái kéo, 01 cây dao mác trong khuôn viên nhà thờ để cạy phá cửa lấy trộm tài sản thì bị người dân phát hiện bắt quả tang.

Cơ quan CSĐT đã tạm giữ 01 cái bao, 01 cái kéo, 01 cây dao mác và đã trả lại những tài sản này cho đại diện nhà thờ Họ Lê.

Quá trình điều tra mở rộng vụ án xác định được từ ngày 21/02/2023 đến ngày 24/02/2023, Hồ Văn L đã 03 lần thực hiện hành vi lấy trộm tài sản, cụ thể:

- Vụ 01: Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 21/02/2023, Hồ Văn L đi bộ dọc theo Tỉnh lộ 49B, khi đi ngang qua nhà thờ họ Nguyễn tại thôn P, xã P, thành phố H, phát hiện không có người trông coi nên L lén lút trèo qua cổng nhà thờ, đến vị trí cửa hông L lòn tay qua tấm ván cửa để mở chốt cửa (cửa khóa bằng chốt trong) đột nhập vào bên trong nhà thờ lấy trộm: 03 bộ lư bằng đồng có tổng trọng lượng 14,2kg, 04 con hạc bằng đồng có tổng trọng lượng 6,8kg, 01 cây đèn bằng đồng có trọng lượng 1,6kg. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, L đưa đến bán cho anh Mai Thanh T (Sinh năm 1975, trú tại khu vực 4, phường H, thành phố H), làm nghề thu mua phế liệu tại khu vực cuối đường Phạm Văn Đ, phường P, thành phố H, được số tiền: 1.700.000 đồng. L đã sử dụng cá nhân hết số tiền trên.

* Vật chứng tạm giữ: Anh Mai Thanh T giao nộp 03 bộ lư bằng đồng có tổng trọng lượng 14,2kg, 04 con hạc bằng đồng có tổng trọng lượng 6,8kg, 01 cây đèn bằng đồng có trọng lượng 1,6kg.

Cơ quan CSĐT đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu.

* Kết luận định giá số: 38/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự UBND thành phố Huế, kết luận: 03 bộ lư bằng đồng có tổng trọng lượng 14,2kg, 04 con hạc bằng đồng có tổng trọng lượng 6,8kg, 01 cây đèn bằng đồng có trọng lượng 1,6kg, có tổng giá trị là: 9.040.000 đồng.

- Vụ 02: Vào lúc 03 giờ 00 phút ngày 23/02/2023, Hồ Văn L di bộ dọc theo đường tỉnh lộ 49B, phát hiện nhà thờ họ Nguyễn tại xóm 3, thôn L, xã P, thành phố H, không có người trông coi nên L leo tường rào đột nhập vào bên trong nhà thờ, L nhặt 01 cành cây khô, sau đó đến khu vực cửa chính dùng cành cây khô gạt mở chốt cửa bên trong (cửa khóa chốt trong), lấy trộm 02 bộ lư bằng đồng có tổng trọng lượng 10kg, 06 cây đèn bằng đồng có tổng trọng lượng 18.6kg. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, L đưa tài sản lấy trộm được đến bán cho anh Hoàng Văn N (Sinh năm 1987), làm nghề mua bán phế liệu tại 246 K, phường T, thành phố H, được số tiền: 1.600.000 đồng. L đã sử dụng cá nhân hết số tiền trên.

* Vật chứng tạm giữ: Anh Hoàng Văn N giao nộp 02 bộ lư bằng đồng có tổng trọng lượng 10kg, 06 cây đèn bằng đồng có tổng trọng lượng 18.6kg.

Cơ quan CSĐT đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu.

* Kết luận định giá số: 38/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự UBND thành phố Huế, kết luận: 02 bộ lư bằng đồng có tổng trọng lượng 10kg, 06 cây đèn bằng đồng có tổng trọng lượng 18.6kg, có tổng giá trị là: 11.440.000 đồng.

- Vụ 03: Vào rạng sáng ngày 24/02/2023, Hồ Văn L di bộ dọc theo đường tỉnh lộ 49B, phát hiện nhà thờ phái họ Nguyễn, tại xóm 2, thôn L, xã P, thành phố H, không có người trông coi nên L leo tường rào đột nhập vào bên trong nhà thờ, L nhặt 01 cành cây khô, sau đó đến khu vực cửa chính dùng cành cây khô gạt mở chốt cửa bên trong (cửa khóa chốt trong), lấy trộm 06 cây đèn bằng đồng có tổng trọng lượng 14,4kg. Đến khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, L đưa tài sản lấy trộm được đến bán cho anh Hoàng Văn N, được số tiền: 900.000 đồng. L đã sử dụng cá nhân hết số tiền trên.

* Vật chứng tạm giữ: Anh Hoàng Văn N giao nộp 06 cây đèn bằng đồng có tổng trọng lượng 14,4kg.

Cơ quan CSĐT đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu.

* Kết luận định giá số: 38/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự UBND thành phố Huế, kết luận: 06 cây đèn bằng đồng có tổng trọng lượng 14,4kg, có tổng giá trị là: 5.760.000 đồng.

* Về trách nhiệm dân sự: Đại diện các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bị can Hồ Văn L bồi thường về dân sự.

Anh Hoàng Văn N yêu cầu bồi thường về dân sự với số tiền: 2.500.000 đồng; anh Mai Thanh T yêu cầu bồi thường về dân sự với số tiền: 1.700.000đ. Hiện bị cáo Hồ Văn L chưa bồi thường về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 162/CT-VKSTPH ngày 11/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh T truy tố Hồ Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Văn L từ 15 tháng đến 18 tháng tù; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn N và anh Mai Thanh T khi mua tài sản của Hồ Văn L không biết tài sản do trộm cắp mà có, số tiền anh Ninh bỏ ra mua tài sản là 2.500.000đồng, anh T bỏ ra mua tài sản là 1.700.000đồng. Hiện bị cáo L chưa bồi thường. Nay tài sản đã bị thu hồi, nên đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo L phải bồi thường số tiền trên cho anh N và anh T.

Về án phí: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế; bị cáo nói lời nói sau cùng là đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Huế, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo phù với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án tại cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để khẳng định: Từ ngày 21/02/2023 đến ngày 24/02/2023, tại xã P, thành phố H, tỉnh T; Hồ Văn L đã 03 lần lén lút lấy trộm tài sản có tổng giá trị là: 26.240.000 đồng (Hai mươi sáu triệu hai trăm bốn mươi ngàn đồng), cụ thể: Ngày 21/02/2023 lấy trộm 03 bộ lư bằng đồng có tổng trọng lượng 14,2kg, 04 con hạc bằng đồng có tổng trọng lượng 6,8kg, 01 cây đèn bằng đồng có trọng lượng 1,6kg, có tổng giá trị là: 9.040.000 đồng (Chín triệu không trăm bốn mươi ngàn đồng), của nhà thờ họ Nguyễn. Ngày 23/02/2023 lấy trộm 02 bộ lư bằng đồng có tổng trọng lượng 10kg, 06 cây đèn bằng đồng có tổng trọng lượng 18.6kg, có tổng giá trị là: 11.440.000 đồng (Mười một triệu bốn trăm bốn mươi ngàn đồng), của nhà thờ họ Nguyễn. Ngày 24/02/2023 lấy trộm 06 cây đèn bằng đồng có tổng trọng lượng 14,4kg, có tổng giá trị là: 5.760.000 đồng (Năm triệu bảy trăm sáu mươi ngàn đồng), của nhà thờ phái họ Nguyễn. Nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như bản Cáo trạng số 162/CT-VKSTPH ngày 11/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh T truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khoẻ, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn thực hiện nhằm mục đích để có tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay để áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo giáo dục bị cáo, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Tại thời điểm phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Từ những phân tích trên cần xử phạt bị cáo một mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Hoàng Văn Ninh và anh Mai Thanh T khi mua tài sản của Hồ Văn L không biết tài sản do trộm cắp mà có, số tiền anh N bỏ ra mua tài sản là 2.500.000đồng, anh T bỏ ra mua tài sản là 1.700.000đồng. Hiện bị cáo L chưa bồi thường, nay tài sản đã bị thu hồi, nên cần buộc bị cáo L phải bồi thường số tiền trên cho anh N và anh T.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cái bao, 01 cái kéo, 01 cây dao mác là các công cụ, phương tiện bị cáo nhặt trong khuôn viên nhà thờ Họ Lê tại xóm 8, thôn L, xã P, thành phố H dùng vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện nhà thờ Họ Lê là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Hồ Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn L 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 28/02/2023.

2.Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 579, Điều 589, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự; buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Hoàng Văn N số tiền 2.500.000đồng, bồi thường cho anh Mai Thanh T 1.700.000đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành án đủ khoản tiền nói trên thì hành tháng phải chịu thêm một khoản tiền do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7a Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3.Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; Buộc bị cáo Hồ Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người nêu trên vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ