vanban.org

Bản án 174/2022/HSST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 22/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lê Anh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Nguyễn Lê Anh Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 9 năm 2022. Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình bị cáo Nguyễn Lê Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lê Anh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2022/HSST
Ngày: 22/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Ngọc Tuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hiếu;

2. Ông Nguyễn Đình Phúc.

- Thư ký phiên tòa:

+ Tại điểm cầu trung tâm: Ông Bùi Ngọc Khánh Hoàng – Thư ký Tòa án

nhân dân Quận 1.

+ Tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Thị Thanh Kim Tuyền – Thư ký

Tòa án nhân dân Quận 1.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa:

+ Tại điểm cầu trung tâm: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Kiểm sát viên.

+ Tại điểm cầu thành phần: Ông Mai Đức Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 12 năm 2022 Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 172/2022/TLST-HS ngày

25 tháng 11 năm 2022 theo hình thức trực tuyến, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm

đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công

an Quận 1 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1077/2022/QĐXXST-HS ngày 02

tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Lê Anh Đ, sinh ngày 25 tháng 01 năm 1978, tại Thành phố Hồ Chí

Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 39/4/39/5 đường H, Phường V, quận P,

Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Số 600/10B đường L, Phường M, quận G,

Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên giao hàng; trình độ học vấn:

11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con

ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị T; có vợ Lưu Thị Huỳnh H và có một người con

sinh năm 2005; tiền án: Ngày 06 tháng 11 năm 2019, bị Toà án nhân dân Thành

phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số:

425/HSST. Đến ngày 07 tháng 02 năm 2021, chấp hành xong án phạt tù nhưng chưa xoá án tích; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15 tháng 9 năm 2022 tại nhà tạm giữ Công an Quận 1. (có mặt)

Người bị hại: Ông Đào Anh D, sinh năm: 1987;

Chỗ ở hiện nay: Số 112/27B đường B, Phường H, quận T, Thành phố Hồ

Chí Minh. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Trần Tấn H, sinh năm: 1971;

Chỗ ở hiện nay: Ấp 1A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)

- Ông Trần Văn D, sinh năm: 1985;

Chỗ ở hiện nay: Số 105 N, Phường X, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

(vắng mặt)

- Bà Lưu Thị Huỳnh H, sinh năm: 1978;

Chỗ ở hiện nay: Số 600/10B đường L, Phường M, quận G, Thành phố Hồ

Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài, khoảng 12 giờ 50 ngày 08 tháng 9 năm 2022, Nguyễn

Lê Anh Đ điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Nouvo, biển số: 59S1-939.07 đến trước nhà số 38 đường Y, phường B, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh nhìn thấy xe mô tô hiệu Honda SH, biển số: 59F1-735.43 của ông Đào Anh D dựng trên lề đường, không người trông coi và ở phần để chân có một balo màu xám nên Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt. Đ điều khiển xe mô tô áp sát xe mô tô hiệu Honda SH, biển số: 59F1-735.43 chồm người tới, dùng tay trái lấy balo, cất dưới baga xe mô tô của Đ rồi điều khiển xe tẩu thoát. Ông D đi ra phát hiện balo đã bị trộm nên đến Công an phường B, Quận X trình báo vụ việc.

Sau khi chiếm đoạt tài sản của ông D, Đ chạy về quán nước trước nhà số

32/5 đường B, Phường M, quận B, mở balo ra kiểm tra thấy bên trong đựng 01 laptop hiệu Macbook Retina 12inch, 01 con dấu của Công ty Cổ phần Đầu tư XY, 01 giấy đăng ký kết hôn nên đã vứt bỏ balo cùng những đồ vật khác và đem laptop hiệu Macbook cùng cục sạc đến bán cho ông Lê Minh H là chủ hộ kinh doanh LH tại địa chỉ: Số 226 đường B, Phường M, quận B, với giá 5.000.000 đồng, khi bán Đ không cho ông H biết đây là tài sản do trộm cắp mà có.

Qua truy xét, ngày 15 tháng 9 năm 2022 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an

Quận 1 đã bắt tạm giam Đ. Quá trình điều tra, Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của Đ phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản đối chất, biên bản nhận dạng, hình ảnh Camera, kết quả

thực nghiệm điều tra và những tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều

tra Công an Quận 1 thu thập được. (Bút lục: 39-43, 44-45, 52-55, 46-51, 68-72, 134

-150)

Theo bản kết luận định giá tài sản số: 246/KL-HĐĐGTS ngày 13 tháng 9

năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân

Quận 1, kết luận: Laptop hiệu Macbook 12 inch, 512 gb, màu vàng; con dấu tròn

của Công ty Cổ phần Đầu tư DG và ba lô màu xám có tổng trị giá là 15.000.000

đồng (Bút lục: 21-24)

Bản cáo trạng số: 177/CT-VKSQ1 ngày 24 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm

sát nhân dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Nguyễn Lê Anh Đ về tội “Trộm cắp tài sản”

theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng:

Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án,

bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo

trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hành vi phạm

tội của bị cáo có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo

khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp

tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm nên cần có mức án nghiêm. Tuy nhiên,

trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải

nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52;

điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu)

tháng đến 02 (hai) năm tù, miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Macbook Retina 12 inch 2016, ram 8gb,

dung lượng 512 Gb, màu vàng đồng (kèm cục sạc). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công

an Quận 1 đã thu hồi trả lại cho ông D và ông D không yêu cầu bị cáo bồi thường

về trách nhiệm dân sự nên không xét.

+ Số tiền 5.000.000 đồng bị cáo Đ đã bán 01 laptop hiệu Macbook Retina

12inch cùng cục sạc cho ông H là chủ hộ kinh doanh LH đã tiêu xài hết, ông H

không yêu cầu bị cáo bồi thường về trách nhiệm dân sự nên không xét.

- Về xử lý vật chứng:

+ 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình khi bị cáo Đ thực hiện hành vi phạm tội;

01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình khi bị cáo Đ đem 01 chiếc máy tính xách tay hiệu

Macbook Retina 12 inch 2016, ram 8gb, dung lượng 512 Gb, màu vàng đồng (kèm

sạc) đến bán tại hộ kinh doanh LH cần tiếp tục lưu trong hồ sơ.

+ 01 điện thoại di động hiệu Asus, Imei 359027076438217 cần trả lại bị cáo.

+ 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số: 59S1-939.07 cần trả lại bà H.

+ 01 quần jeans dài màu xanh, 01 đôi giày vải màu xanh, 01 áo thun tay

ngắn màu trắng có in chữ Super Sport Dry, 01 áo khoác Ahamove màu cam, 01 mũ bảo hiểm Ahamove màu cam cần tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều

tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an

Quận 1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời

khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án là biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản bắt bị can để tạm giam, biên bản hoạt động điều tra, hình ảnh camera hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản làm việc, bản tường trình, bản tự khai, biên bản đối chất, biên bản nhận dạng, kết luận định giá tài sản,… nên có căn cứ để kết luận: Khoảng 12 giờ 50 ngày 08 tháng 9 năm 2022, tại trước nhà số 38 đường Y, phường B, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc balo của ông D bên trong có 01 laptop hiệu Macbook Retina 12inch (cùng cục sạc), 01 con dấu của Công ty Cổ phần Đầu tư DG, 01 giấy đăng ký kết hôn, trị giá tài sản chiếm đoạt có giá trị là 15.000.000 đồng của ông D, rồi sau đấy bị bắt giữ cùng vật chứng. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết

tâm cao, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần có mức án nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên cần có mức án nghiêm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại

phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo

hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1

Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật

Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng

đến 50.000.000 đồng”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là

hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét

xử miễn hình phạt tiền cho bị cáo.

Đối với ông L - Chủ hộ kinh doanh LH khi mua 01 laptop hiệu Macbook

Retina 12inch (cùng cục sạc) mà bị cáo Đ mang đến bán, do không biết đây là tài

sản do bị cáo Đ phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1

không truy cứu trách nhiệm hình sự ông H là phạm tội tiêu thụ tài sản do người

khác phạm tội mà có là có cơ sở.

Về trách nhiệm dân sự:

- Đối với 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Macbook Retina 12 inch 2016,

ram 8gb, dung lượng 512 Gb, màu vàng đồng (kèm cục sạc) bị cáo đã chiếm đoạt

của ông D. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 đã thu hồi trả lại cho ông D,

riêng 01 con dấu của Công ty Cổ phần Đầu tư DG, 01 giấy đăng ký kết hôn không

thu hồi được và ông D không yêu cầu bị cáo bồi thường nào khác về trách nhiệm

dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

- Đối với số tiền 5.000.000 đồng bị cáo Đ đã bán 01 laptop hiệu Macbook

Retina 12inch cùng cục sạc cho ông H là chủ hộ kinh doanh LH đã tiêu xài hết và

ông H không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên và bồi thường nào khác về trách

nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình khi bị cáo Đ thực hiện hành vi

phạm tội; 01 đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình khi bị cáo Đ đem 01 chiếc máy tính

xách tay hiệu Macbook Retina 12 inch 2016, ram 8gb, dung lượng 512 Gb, màu

vàng đồng (kèm cục sạc) đến bán tại hộ kinh doanh LH cần tiếp tục lưu trong hồ

sơ.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Asus, Imei 359027076438217, Cơ quan

Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thu giữ của bị cáo. Xét không liên quan đến vụ

án cần xem xét trả lại bị cáo.

- Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số: 59S1-939.07. Qua xác

minh xe của bà Lưu Thị Huỳnh H, sinh năm: 1978; trú tại: Số 600/10B đường L,

Phường M, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Tại

phiên tòa bà H khai xe trên là tài sản riêng của bà, bà giao xe để bị cáo Đ đi giao

hàng, việc bị cáo Đ sử dụng xe đi trộm cắp tài sản bà H không biết, bà mong muốn nhận lại xe làm phương tiện đi lại. Xét, việc thu giữ xe trên không liên quan đến vụ án cần xem xét trả lại cho bà H là chủ sở hữu.

- Đối với 01 quần jeans dài màu xanh, 01 đôi giày vải màu xanh, 01 áo thun

tay ngắn màu trắng có in chữ Super Sport Dry, 01 áo khoác Ahamove màu cam, 01 mũ bảo hiểm Ahamove màu cam, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1 thu giữ của bị cáo. Xét không liên quan đến vụ án cần xem xét trả lại bị cáo nhưng tại phiên tòa bị cáo không nhận lại và xét không còn giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2

Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Lê Anh Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều

51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Nguyễn Lê Anh Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 9 năm 2022.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,

+ Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình bị cáo Nguyễn Lê

Anh Đ thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản; 01 (một) đĩa DVD chứa dữ liệu ghi hình khi bị cáo Nguyễn Lê Anh Đ đem 01 chiếc máy tính xách tay hiệu Macbook Retina 12 inch 2016, ram 8gb, dung lượng 512 Gb, màu vàng đồng (kèm cục sạc) đến bán tại hộ kinh doanh LH.

+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Lê Anh Đ 01 (một) điện thoại di động hiệu

Asus, Imei 359027076438217.

+ Trả lại cho bà Lưu Thị Huỳnh H 01 (một) xe môtô hiệu Yamaha Nouvo,

biển số: 59S1-939.07.

+ Tiêu hủy 01 (một) quần jeans dài màu xanh, 01 (một) đôi giày vải màu

xanh, 01 (một) áo thun tay ngắn màu trắng có in chữ Super Sport Dry, 01 (một) áo khoác Ahamove màu cam, 01 (một) mũ bảo hiểm Ahamove màu cam.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 217/LNK-ĐTTH ngày 21 tháng 9 năm

2022 của Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh)

- Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm

2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,

nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Nguyễn Lê Anh Đ phải

chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân

sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu

thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định

tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án

được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự (sửa đổi, bổ

sung năm 2014).

Bị cáo Nguyễn Lê Anh Đ, bà Lưu Thị Huỳnh H có quyền kháng cáo bản án

này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố

tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được

giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Cỡ chữ