- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về áp dụng điều luật:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 174/2022/HS- ST Ngày 29- 9- 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Vân
Bà Dương Thị Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy- Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hình sự thụ lý số 181 /2022/TLST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2022/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Mông Văn Th, sinh năm 1997; tại huyện V tỉnh Lạng Sơn.
Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn Ph, xã , huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Mông Văn Y; và bà: Lý Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang ( có mặt).
- Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn Th ( vắng mặt)
2. Anh Nguyễn Văn L ( vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/5/2022, tại khu vực trước cửa quán nước Lối Nhỏ thuộc thôn V1, xã V2, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an huyện V, tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an xã V2, huyện V phát hiện, bắt quả tang Mông Văn Th- sinh năm 1997, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Ph, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; chỗ thuê trọ: thôn V1, xã V2, huyện V, tỉnh Bắc Giang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng: Thu tại lòng bàn tay trái của Mông Văn Th gồm 02 (hai) gói giấy bạc bên trong đều chứa chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy Heroine) được niêm phong trong phong bì dán kín có ký hiệu “QT”.
Quá trình bắt quả tang còn thu giữ của Th: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, Imei 1: 863481047855257, Imei 2 86347855240 đã qua sử dụng.
Cùng ngày 31/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V khám xét khẩn cấp nơi thuê trọ của Mông Văn Th tại thôn V1, xã V2, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Kết quả thu giữ trong hộp giấy để dưới nền nhà phòng trọ của Mông Văn Th 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ bên trong chứa chất cục bột màu trắng (nghi là ma túy Heroine) được niêm phong trong phong bì dán kín có ký hiệu “KX”.
Ngày 31/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện V trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang giám định loại chất ma túy, khối lượng chất ma túy thu giữ được niêm phong trong phong bì “QT” và “KX”.
Tại Kết luận giám định số 969/KL-KTHS ngày 07/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:
- Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 02 (hai) gói giấy bạc đều có hai mặt màu trắng bạc là ma túy, có tổng khối lƣợng 0,173 gam, loại Heroine.
- Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “KX” đã được niêm phong gửi giám định: Chất cục bột màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có khối lƣợng 1,489 gam, loại Heroine.
Quá trình điều tra, bị cáo Mông Văn Th khai nhận về nguồn gốc ma túy bị bắt quả tang và khám xét khẩn cấp như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/5/2022, do có nhu cầu mua ma túy để bán kiếm lời nên Th thuê xe ôm của một người không quen biết tại ngã ba gần Khu công nghiệp V1, huyện V, tỉnh Bắc Giang đi đến bãi đất trống thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang mua ma túy để bán. Tại đây, Th gặp một người đàn ông không quen biết họ tên, địa chỉ cụ thể, khoảng 30 tuổi, cao 1m67, dáng người gầy và hỏi mua của người này 2.000.000 đồng chất ma túy Heroine. Người đàn ông này đồng ý và cầm số tiền 2.000.000 đồng của Th rồi đưa lại cho Th 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên trong chứa chất cục bột màu trắng là chất ma túy Heroine. Th cầm số ma túy vừa mua được mang về phòng trọ thuộc thôn V1, xã V2, huyện V, tỉnh Bắc Giang rồi lấy một phần số ma túy đó ra, dùng giấy bạc gói thành 02 gói, số ma túy còn lại để trong 01 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, cất giấu trong hộp giấy để dưới nền nhà phòng trọ. Khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Th cầm 02 gói giấy bạc chứa chất ma túy trong lòng bàn tay trái đi đến khu vực ngã ba đường gần Khu công nghiệp V2, huyện V, tỉnh Bắc Giang bán cho người thanh niên tên S, khoảng 25 tuổi, trú tại huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khi Th từ nhà trọ đi được khoảng 15 mét thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Th khai nhận đang có ma túy trong người mục đích mang đi để bán kiếm lời và tự nguyện giao nộp 02 (hai) gói giấy bạc bên trong chứa chất ma túy Heroine trong lòng bàn tay trái của Th cho Cơ quan Công an. Lực lượng Công an niêm phong vật chứng tại chỗ là số ma túy trong phong bì ký hiệu “QT” đưa Th về trụ sở UBND xã V2, huyện V, tỉnh Bắc Giang lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thanh.
Quá trình điều tra bị cáo Mông Văn Th khai nhận ngày 29/5/2022, Th mua ma túy của người đàn ông không quen biết, khoảng 30 tuổi, cao 1,67m, dáng người gầy tại bãi đất trống thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (vẫn là người bán ma túy ngày 31/5/2022) với giá 2.000.000 đồng chất ma túy Heroine. Th mang về phòng trọ chia số ma túy mua được thành 13 gói nhỏ và sử dụng hết 05 gói, 08 gói còn lại Th bán lần lượt cho 03 người đàn ông khác nhau (trong đó có 01 thanh niên tên là S, khoảng 25 tuổi, trú tại huyện L, tỉnh Bắc Giang mà Th hẹn bán ma túy cho S ngày 31/5/2022 bán 02 gói ma túy thu được 400.000 đồng, còn 02 người đàn ông còn lại Th không biết tên tuổi, địa chỉ bán được 06 gói ma túy thu được 1.200.000 đồng) tại khu vực ngã ba đường thuộc địa phận thôn V1, xã V2, huyện V, tỉnh Bắc Giang mỗi gói với giá 200.000 đồng. Số tiền bán ma túy có được Th sử dụng để mua ma túy ngày 31/5/2022.
Ngày 07/6/2022, Cơ quan điều tra tiến hành cho bị cáo Th xác định vị trí Th bán chất ma túy tại khu vực ngã ba thuộc thôn V1, xã V2, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Kết quả không phát hiện dấu vết của việc mua bán chất ma túy, không phát hiện hệ thống camera an ninh nào ở khu vực này.
Ngày 09/6/2022, Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại thu giữ của Th.
Kết quả không phát hiện dữ liệu nào có nội dung liên quan đến hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 182/CT- VKS ngày 15 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Mông Văn Th về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa các bị cáo khai: Ngày 29 tháng 5 năm 2022 bị cáo thuê một người xe ôm không quen biết trở đi mua ma túy về chia thành 13 gói nhỏ, sử dụng 05 gói, còn bán 08 gói bị cáo bán cho anh S không rõ tuổi địa chỉ 02 gói được 400.000 đồng, bán cho 02 người không quen biết 06 gói được 1.200.000 đồng, tổng số bị cáo bán được 1.600.000 đồng. Ngày 31 tháng 5 năm 2022 bị cáo thuê một người xe ôm không quen biết trở đi mua ma túy. Bị cáo dùng tiền bán ma túy của ngày 29/5/2022 mua ma túy ngày 31/5/2021 để bán . Bị cáo mang số ma túy về phòng trọ chia thành 02 gói nhỏ, số ma túy còn lại bị cáo để ở phòng trọ. Bị cáo cầm 02 gói nhỏ ma túy đi bán thì bị bắt quả tang. Cả hai ngày mua ma túy bị cáo không biết tên, tuổi địa chỉ của người bán ma túy cho bị cáo. Ngoài 02 ngày trên, bị cáo không mua bán ma túy lần nào khác.
Kết thúc thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa luận tội đối với các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi đánh giá chứng cứ, đề nghị:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm s, r khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mông Văn Th từ 07 ( bẩy) năm tù đến 07 ( bẩy) năm 06 ( sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 31/5/2022.
* Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2,3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì có ký hiệu “QT” và “KX” bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
+ Trả lại bị cáo Mông Văn Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đã qua sử dụng.
*Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 Quốc Hội khóa 14 ngày 30/12/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V , Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, sự vắng mặt của những người này không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn thuộc diện được trợ giúp pháp lý. Bị cáo từ chối trợ giúp pháp lý, nếu Tòa án chỉ định người bào chữa cho bị cáo, bị cáo từ chối. Căn cứ Điều 77 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và các chứng cứ khác, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31/5/2022, tại trước cửa quán nước Lối Nhỏ thuộc thôn V1, xã V2, huyện V, tỉnh Bắc Giang; Đội cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an huyện V phối hợp với Công an xã V2, phát hiện, bắt quả tang Mông Văn Th có hành vi tàng trữ 1,662 gam chất ma tuý Heroine với mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra bị cáo Th còn khai nhận vào ngày 29/5/2022 có hành vi bán 08 gói ma túy cho 03 người khác nhau được 1.600.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo Mông Văn Th có đủ yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy. Cáo trạng số 182/CT- VKS ngày 15 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên truy tố bị cáo Mông Văn Th về tội mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến những qui định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Ma túy là chất gây nghiện không những là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV, AIDS , mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa bàn có khu công nghiệp. Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng. Do đó, cần xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, xử phạt bị cáo một hình phạt nghiêm khắc, áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự thú hành vi mua bán trái phép chất ma túy ngày 29/5/2022. Áp dụng điểm r, điểm s Khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi cân nhắc hình phạt.
[ 6] Tình tiết tăng nặng: Tình tiết bị cáo phạm tội 02 lần đã được áp dụng là tình tiết định khung hình phạt, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng là tình tiết tăng nặng.
Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, sống phụ thuộc gia đình, là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với nguồn gốc ma túy Th khai mua của người đàn ông không quen biết, khoảng 30 tuổi, cao 1,67m, dáng người gầy ngày 29/5/2022 và ngày 31/5/2022, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại bãi đất trống thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang nhưng không xác định được đối tượng nào có đặc điểm như Th khai báo có biểu hiện mua bán ma túy nên Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến người đàn ông này ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Đối với nam thanh niên tên là S, khoảng 25 tuổi, trú tại huyện L tỉnh Bắc Giang hẹn mua ma túy của Th ngày 31/5/2022. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại khu vực ngã ba đường gần Khu công nghiệp V2 nhưng không xác định được đối tượng nào có đặc điểm như Th khai, có biểu hiện mua bán trái phép ma túy nên Cơ quan điều tra tách phần tài liệu liên quan đến người đàn ông này ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là đúng pháp luật.
Về vật chứng:
02 phong bì có ký hiệu “QT” và “KX” bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và là vật cấm lưu hành căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo Th không liên quan đến việc phạm tội, căn cứ khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại bị cáo.
Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Về áp dụng điều luật:
Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 251, các điểm r, s Khoản 1 Điều 51, 38, các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự
Căn cứ Điều 77; điểm a Khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106, các Điều 293, 331; 332, 333; 336, 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Về mức hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Mông Văn Th 07 ( bẩy) năm 03 ( ba) tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 31/5/2022.
3. Về vật chứng:
3.1. Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì có ký hiệu “QT” và “KX” bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.
3.2.Trả lại bị cáo Mông Văn Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh đã qua sử dụng.
( Vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 9 năm 2022 giữa Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện V)
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện V; - CCTHADS huyện V; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Lưu HS.VP; - Công an V; - Bị cáo; - UBND xã H. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hƣơng |