vanban.org

Bản án 174/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé T được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H.

Về con chung: giao các con chưa thành niên tên Nguyễn Ngọc Thảo Q, (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/12/2011 và Nguyễn Gia Th (giới tính: Nam), sinh ngày 09/12/2013 cho anh Nguyễn Quốc H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị Bé T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Thị Bé T và bị đơn Nguyễn Quốc H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé T được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PH
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2022/HNGĐ-ST
Ngày 19 – 12 – 2022
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hoàng Em.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng Loan.

2. Ông Nguyễn Thành Quyến.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà Linh là Thư ký Toà án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Cẩm Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện PH xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 519/2022/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144a/2022/QĐXXST - HNGĐ, ngày 21 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé T, sinh năm 1988.

Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện PH, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1985.

Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện PH, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện gửi Tòa án và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H có tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện PH. Quá trình chung sống thì vợ chồng hạnh phúc được một thời gian. Sau đó thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H không quan tâm đến đời sống gia đình, không lo làm ăn mà chỉ lo chơi bời, gây nợ nần hết lần này đến lần khác, chị đã nhiều lần khuyên nhưng anh H không sửa đổi, từ đó xảy ra bất hòa, tranh cãi, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Anh H không chia sẻ với chị những khó khăn trong cuộc sống. Chị và anh H đã ly thân từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Chị T nhận thấy không còn tình cảm với anh H, không còn khả năng hàn gắn và không muốn kéo dài cuộc hôn nhân này nữa nên chị yêu cầu ly hôn.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Thảo Q, (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/12/2011 và Nguyễn Gia Th (giới tính: Nam), sinh ngày 09/12/2013, các con hiện đang do anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T đồng ý để giao 02 con chung cho anh H nuôi, chị không có tranh chấp.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân và con chung như chị T trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng không có phát sinh mâu thuẫn gì lớn. Anh cũng có gây nợ nần nhưng cũng xuất phát từ chuyện làm ăn chứ không có chơi bời như chị T nói. Theo anh nguyên nhân chị T nộp đơn ly hôn là vì anh nghèo, không lo được cho chị T. Anh không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ con. Tuy nhiên, tại đơn xin vắng mặt ngày 16 tháng 12 năm 2022, anh thay đổi ý kiến, anh đồng ý ly hôn, yêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị T và anh H vắng mặt.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị T được ly hôn với anh H. Về con chung: giao 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Thảo Q, (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/12/2011 và Nguyễn Gia Th (giới tính: Nam), sinh ngày 09/12/2013 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị T chưa phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom con cho chị T không ai được ngăn cản. Về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến bị đơn, Toà xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn trong vụ án là anh Nguyễn Quốc H có địa chỉ cư trú tại huyện PH, tỉnh Hậu Giang. Căn cứ quy định tại các điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.

Về xét xử trong trường hợp có đương sự vắng mặt tại phiên tòa: nguyên đơn và bị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé T và anh Nguyễn Quốc H tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh chị được công nhận hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, anh chị đều thừa nhận không còn tình cảm với nhau và cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc và thống nhất ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình cảm của anh chị đối với nhau không còn, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của anh chị đã thật sự trầm trọng, nếu tiếp tục chung sống sẽ không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Toà chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị T và anh H có 02 con chung tên Nguyễn Ngọc Thảo Q, (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/12/2011 và Nguyễn Gia Th (giới tính: Nam), sinh ngày 09/12/2013. Các con hiện tại do anh H trực tiếp nuôi dưỡng, anh H yêu cầu được nuôi con, chị T cũng thống nhất, không có tranh chấp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao các con chung cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Theo khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Tuy nhiên do chưa có yêu cầu, nên Tòa không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự không ai có yêu cầu giải quyết nên Tòa chưa xem xét. Nếu sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết thành một vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo mức không có giá ngạch theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Đối với phát biểu quan điểm về tố tụng và đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, Hội đồng xét xử thống nhất và chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 228, 238, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Bé T được ly hôn với anh Nguyễn Quốc H.

2. Về con chung: giao các con chưa thành niên tên Nguyễn Ngọc Thảo Q, (giới tính: Nữ), sinh ngày 29/12/2011 và Nguyễn Gia Th (giới tính: Nam), sinh ngày 09/12/2013 cho anh Nguyễn Quốc H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị Bé T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: buộc chị Nguyễn Thị Bé Tc chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo biên lai thu số 0008402 ngày 05/10/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PH thành án phí.

4. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ