- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân Hàng S - Nguyễn Thành Đ"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S đối với ông Nguyễn Thành Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 174/2021/DSST Ngày: 10/6/2021 V/v tranh chấp: Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Kim N
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Tuyết
2. Bà Trần Thị THLiên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu H – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị V – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 6 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2020/TLST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2021/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2021/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng S.
Địa chỉ trụ sở: Số 2 đường N, Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp theo pháp luật:
Bà NĐTD, sinh năm 1973 – Chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền:
Ông NTH, sinh năm 1983
Địa chỉ thường trú: 85/24 đường B, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo văn bản ủy quyền số: 97/2020/UQ-CNQ4 ngày 20/5/2020.
(Ông H có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 1993
Địa chỉ thường trú: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh V.
Địa chỉ tạm trú: 532/1/139A đường Y, khu phố 12, phường B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 5 năm 2020, bản tự khai và các biên bản không tiến hành hòa giải được tại Tòa cùng các tài liệu chứng cứ khác do các bên đương sự cung cấp thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Nguyên đơn Ngân hàng S có ông NTH là người đại diện hợp pháp theo ủy quyền trình bày:
Vào ngày 24/4/2019, ông Nguyễn Thành Đ có ký với Ngân hàng S Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Thành Đ, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Nguyễn Thành Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 173.769.000 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến tháng 02/2020 ông Đ đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 151.250.000 đồng thì ngưng không thanh toán nữa. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở đôn đốc trả nợ nhưng ông Đ vẫn không thực hiện. Do ông Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 22/3/2020 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Đ, đồng thời chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 28.548.172 đồng làm nợ gốc, áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn theo như hợp đồng là 3,225%/tháng.
Nay, Ngân hàng S khởi kiện yêu cầu ông Đ trả một lần cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ tính đến hết ngày 07/9/2020 là 34.820.269 đồng, bao gồm 28.548.172 đồng tiền nợ gốc và 6.272.097 đồng tiền lãi quá hạn. Đồng thời, Ngân hàng yêu cầu ông Đ phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn lại, được tính từ ngày 08/9/2020 cho đến khi ông Đ trả hết số tiền nợ trên theo mức lãi suất đã được các bên thỏa thuận giao kết trong hợp đồng tín dụng.
Từ khi khởi kiện đến nay, Ngân hàng S chỉ yêu cầu cá nhân ông Đ trả nợ, không yêu cầu vợ ông Đ cùng chịu trách nhiệm do không liên quan đến việc vay nợ của ông Đ và Ngân hàng.
Vụ án không tiến hành hòa giải được do vắng mặt bị đơn. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu và có đơn xin xét xử vắng mặt. Riêng bị đơn ông Nguyễn Thành Đ tiếp tục vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu ý kiến và kết luận:
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thời hạn xét xử không đảm bảo theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71, 73, 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định tại Điều 70, 72, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng giữa Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và ông Nguyễn Thành Đ, bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng của Ngân hàng, bản tóm tắt sao kê ngày 07/9/2020, cho thấy ông Đ có vay của Ngân hàng tổng cộng số tiền 173.769.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ, ông Đ chỉ mới thanh toán cho Ngân hàng số tiền 151.250.000 đồng. Ông Đ chưa thanh toán đầy đủ số tiền giao dịch còn lại, các khoản phí và lãi suất cho Ngân hàng. Do ông Đ không thanh toán đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo quy định tại Điều 466 BLDS năm 2015. Vì vậy, việc Ngân hàng khởi kiện buộc ông Đ phải trả số tiền còn tHtạm tính đến ngày 07/9/2020 tổng cộng là 34.820.269 đồng (trong đó, nợ gốc: 28.548.172 đồng, lãi quá hạn: 6.272.097 đồng) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng vay từ sau ngày 07/9/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ là có cơ sở. Từ phân tích trên, căn cứ Điều 463, 466, 468 BLDS năm 2015, Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết:
Bị đơn ông Nguyễn Thành Đ có nơi cư trú tại số 532/1/139A đường Y, khu phố 12, phường B, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là phù hợp. Đối với bị đơn là ông Nguyễn Thành Đ mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Đ.
Nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu cá nhân ông Đ trả nợ, không yêu cầu vợ ông Đ phải cùng có trách nhiệm trả nợ. Đồng thời, ông Đ vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được bất cứ ý kiến nào của ông Đ. Căn cứ vào quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án không đưa vợ ông Đ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung tranh chấp:
Xét, qua yêu cầu của Ngân hàng S yêu cầu ông Nguyễn Thành Đ trả một lần cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ tính đến hết ngày 07/9/2020 là 34.820.269 đồng, bao gồm 28.548.172 đồng tiền nợ gốc và 6.272.097 đồng tiền lãi quá hạn ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, Ngân hàng yêu cầu ông Đ phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn lại, được tính từ ngày 08/9/2020 cho đến khi ông Đ trả hết số tiền nợ trên theo mức lãi suất đã được các bên thỏa thuận giao kết trong hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, qua xem xét các tài liệu chứng cứ cũng như lời trình bày của các bên đương sự thì hai bên có ký kết hợp đồng tín dụng, điều này được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Việc ký kết này có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, Luật các tổ chức tín dụng, Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng, Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, các bên hoàn toàn tự nguyện nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của đôi bên. Ông Đ đã nhận đủ số tiền để tiêu dùng cá nhân nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết, nên hiện nay phía Ngân hàng yêu cầu ông Đ phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 07/9/2020 là 34.820.269 đồng (bao gồm 28.548.172 đồng tiền nợ gốc và 6.272.097 đồng tiền lãi quá hạn). Đồng thời, Ngân hàng yêu cầu ông Đ phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn lại, được tính từ ngày 08/9/2020 cho đến khi ông Đ trả hết số tiền nợ trên theo mức lãi suất đã được các bên thỏa thuận giao kết trong hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Do bị đơn đã vi phạm thời hạn thanh toán nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là chính đáng, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ông Nguyễn Thành Đ mặc dù đã được Tòa án đã triệu tập cũng như tống Đ hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến gì phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó ông Đ đã từ bỏ quyền phản đối của mình. Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét yêu cầu của ông Đ.
Đối với ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy các ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình thức và nội dung là phù hợp nên có cơ sở để chấp nhận.
Về án phí: Ông Nguyễn Thành Đ chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Ngân hàng S không phải chịu án phí. Hoàn lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Căn cứ vào Luật Thi hành án Dân sự.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S đối với ông Nguyễn Thành Đ.
Buộc ông Nguyễn Thành Đ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng S số tiền còn nợ tính đến hết ngày 07/9/2020 là 34.820.269 đồng (ba mươi bốn triệu, tám trăm hai mươi ngàn, hai trăm sáu mươi chín đồng), trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Đồng thời, ông Nguyễn Thành Đ còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh trên dư nợ gốc còn lại, được tính từ ngày 08/9/2020 cho đến khi ông Đ trả hết số tiền nợ trên theo mức lãi suất đã được các bên thỏa thuận giao kết trong hợp đồng tín dụng.
Đôi bên thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí:
Ông Nguyễn Thành Đ chịu 1.741.013 đồng (một triệu, bảy trăm bốn mươi mốt ngàn, không trăm mười ba đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho Ngân hàng S 715.560 đồng (bảy trăm mười lăm ngàn, năm trăm sáu mươi đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0061169 ngày 04/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao nhận, tống Đ hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
4. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp; - Chi Cục THADS Q. Bình Tân; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Kim N |