- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 174/2020/HNGĐ-ST Ngày: 04-9-2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Ngọc Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Mầm
2. Bà Lữ Phúc Lệ
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Ngày 04 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 265/2020/HNGĐ-ST ngày 10 tháng 6 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 179/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Trúc N, sinh năm 1991 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 02/6/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Trần Trúc N trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn S đăng ký kết hôn năm 2009 tại UBND thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống gia đình hạnh phúc, đến khoảng năm 2017 thì chị và anh S phát sinh mâu thuẫn vì anh S có quan hệ bất chính với một người phụ nữ khác, mặc dù chị và gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải để đảm bảo hạnh phúc gia đình nhưng anh S không thay đổi mà còn gây sự đánh đập chị, tình trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chị nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Nguyễn Văn S có 02 (hai) người con chung, gồm: Cháu Nguyễn Quốc Tr, sinh ngày 24/3/2010 và cháu Nguyễn Quốc Th, sinh ngày 26/10/2013, hiện các con đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được quyền nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn là anh Nguyễn Văn S được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, đã hết thời hạn theo quy định pháp luật mà anh S không có văn bản trình bày ý kiến của mình về yêu cầu xin ly hôn của chị N. Đồng thời, Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ 02 lần thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng chỉ có nguyên đơn chị Trần Trúc N có mặt theo triệu tập của Tòa án, bị đơn anh Nguyễn Văn S vắng mặt không lý do, nên không tiến hành hòa giải được, cũng như nghe ý kiến của anh S về yêu cầu ly hôn và nuôi con của chị N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa chị Trần Trúc N và anh Nguyễn Văn S là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, nuôi con”, bị đơn có nơi cư trú tại ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau nên Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Nguyễn Văn S vắng mặt không lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Trúc N và anh Nguyễn Văn S tự nguyện tiến đến hôn nhân. Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau cấp ngày 05/02/2009 nên đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh S là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Theo trình bày của chị Trần Trúc N thì nguyên nhân dẫn đến chị yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Văn S là do anh S có quan hệ bất chính với một người phụ nữ khác, mặc dù chị và gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải để đảm bảo hạnh phúc gia đình nhưng anh S không thay đổi mà còn gây sự đánh đập chị, tình trạng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chị nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S. Đối với anh Nguyễn Văn S, trong quá trình tố tụng, anh S không đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con của chị N; như vậy, anh S đã từ bỏ quyền chứng minh của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đồng thời không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân đối với chị N. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị N và anh S đã không còn, cả hai đều không muốn hàn gắn cuộc hôn nhân, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Trần Trúc N và anh Nguyễn Văn S có 02 (hai) người con chung, gồm: Cháu Nguyễn Quốc Tr, sinh ngày 24/3/2010 và cháu Nguyễn Quốc Th, sinh ngày 26/10/2013, hiện hai cháu đang sống với chị N. Sau khi ly hôn, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được quyền nuôi con, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, cháu Tr đã hơn 7 tuổi và tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 02/7/2020 cháu có nguyện vọng được sống với chị N, cháu Th chưa đủ 7 tuổi nên Tòa án không lấy ý kiến về nguyện vọng của cháu Th muốn sống với cha hay mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Tuy nhiên, cháu Tr và cháu Th hiện nay đang sống ổn định với chị N; mặt khác, chị N yêu cầu giải quyết nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con anh S không có ý kiến phản đối; do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N giao cháu Nguyễn Quốc Tr và cháu Nguyễn Quốc Th cho chị Trần Trúc N nuôi dưỡng, chăm sóc, không đặt ra xem xét việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Nguyễn Văn S.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 227, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 53, 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Trúc N. Chị Trần Trúc N được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quốc Tr, sinh ngày 24/3/2010 và cháu Nguyễn Quốc Th, sinh ngày 26/10/2013 cho chị Trần Trúc N nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Tr và cháu Th đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Văn S không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Trần Trúc N.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
5. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Trần Trúc N phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được đối trừ số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005454 ngày 09 tháng 6 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Chị Trần Trúc N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn S vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; - Chi cục THADS huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; - UBND thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Ngọc Huyền |