vanban.org

Bản án 174/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 19/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Văn L (Hoàng L).

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện CN. Áp dụng: khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Văn L - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Văn L (Hoàng L).
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 330 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2019/HS-PT
Ngày 19 – 11 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CM

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà ChâUM Hoàng.

Các Thẩm phán: Ông Chung Văn Kết

Ông Trần Trọng Nhân

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Mil - là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh CM.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh CM tham gia phiên toà:

Bà Quách Xía Muội - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh CM xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 178/2019/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo Tạ Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2019/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện CN.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Tạ Văn L - sinh năm: 1984; tên gọi khác: Tạ Hoàng L; nơi đăng ký thường trú: Ấp 12, xã NP, huyện UM, tỉnh CM; chỗ ở hiện nay: đường Lý Văn Lâm, Khóm 1, Phường 1, thành phố CM, tỉnh CM; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Tạ Văn Cáo, sinh năm 1956, con bà Nguyễn Thị Cho, sinh năm 1959; anh, chị, em ruột có 06 người, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 2003, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.

Tiền án: có 01 tiền án – vào năm 2006 bị Tòa án nhân dân huyện UM xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, về trách nhiệm dân sự chưa thi hành.

Tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/5/2019 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Những người tham gia tố tụng khác không liên quan đến kháng cáo (Tòa án không triệu tập).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/. Công an xã LTT, huyện CN.

Địa chỉ: ấp Hòa Trung, xã LTT, huyện CN, tỉnh CM.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dư Thanh V – Chức vụ: Trưởng Công an xã LTT.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T – Chức vụ: Phó Trưởng Công an xã LTT.

2/. Ông Lê Hoàng Anh

3/. Ông Nguyễn Thành T

Cùng Công tác tại: Công an huyện CN, tỉnh CM.

4/. Ông Trần Minh Kh – Chức vụ: Phó Trưởng Công an xã LTT.

5/. Ông Nguyễn Văn Ng

6/.Ông Nguyễn Hữu Th

Cùng công tác tại: Công an xã LTT, huyện CN.

- Nguyên đơn dân sự: Ông Lê Minh D

Công tác tại: Công an xã LTT, huyện CN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/4/2019, Công an huyện CN phối hợp với Công an và Dân quân trường trực xã LTT tiến hành tuần tra kiểm soát đan bảo an ninh trật tự an toàn giao thông trên địa bàn xã LTT.

Đến khoảng 01 giờ 10 phút, ngày 12/4/2019, Lực lượng làm nhiệm vụ tiến hành tuần tra trên tuyến lộ từ cầu LTT về trụ sở xã LTT, khi đến khu vực ấp Năm Đảm, xã LTT thì lực lượng phát hiện Tạ Văn L điều khiển xe mô tô mang biển số kiểm soát 69F5 – 7405 lưu thông trên đường nhưng không có đèn chiếu sáng nên đồng chí Lê Minh D và đồng chí Trần Minh Kh yêu cầu L dừng xe xuất trình giấy tờ để kiểm tra, L không chấp hành mà còn lớn tiếng, có lời lẽ thô tục chửi lực lượng đang làm nhiệm vụ với lý do không có Cảnh sát giao thông thì không được quyền bắt xe. Các đồng chí đang làm nhiệm vụ giải thích nhiều lần nhưng L vẫn không chấp hành mà còn chạy ra giữa đường la lớn “Bà con ơi ăn cướp, ăn cướp”. Lúc này đồng chí Lê Hoàng Anh là Tổ trưởng tổ tuần tra chỉ đạo mời L vào nhà người dân gần đó để làm việc. Khi đó, L đồng ý đi vào, đồng chí D đi phía sau L thì bất ngờ L quay lại dùng tay phải đánh trúng 02 cái vào vùng cổ của đồng chí D thì bị lực lượng khống chế đưa L về trụ sở Công an an xã LTT làm việc. Trong quá trình làm việc L không đồng ý ký tên vào biên bản vi phạm mà tiếp tục lớn tiến, thách thức lực lượng làm nhiệm vụ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện CN đã quyết định:

Áp dụng: khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: bị cáo Tạ Văn L (Hoàng L) phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Xử phạt: Tạ Văn L (Hoàng L) 09 tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.

Ngày 09 tháng 10 năm 2019 bị cáo Tạ Văn L có đơn kháng cáo với nội dung: Xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh CM tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Tạ Văn L khai nhận: Khoảng 01 giờ 10 phút ngày 12/4/2019, bị cáo điều khiển xe mô tô mang biển số kiểm soát 69F5 – 7405 một mình lưu thông trên tuyến lộ thuộc ấp Năm Đảm, xã LTT nhưng không bật đèn chiếu sáng thì bị lực lượng tuần tra của xã LTT cho dừng phương tiện để kiểm tra giấy tờ. Lúc này bị cáo biết những người này là lực lượng tuần tra Công an xã vì có mặc đồng phục ngành và có nói chức vụ nhưng vì không có mang theo giấy tờ nên sợ bị bắt xe, bị cáo đã lớn tiếng rồi chửi lực lượng tuần tra. Bị cáo cũng thừa nhận là có la lớn “bà con ới ăn cướp, ăn cướp” để nhằm thoát đi. Sau đó, bị cáo còn có hành vi đánh trúng 02 cái vào vùng cổ của anh D vì lúc đó bị cáo đã uống rượu nên mất bình tĩnh. Khi về trụ sở Công an xã thì bị cáo cũng không ký tên vào biên bản vi phạm.

Do vậy bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện CN đã xét xử bị cáo Tạ Văn L phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo Tạ Văn L thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị cáo biết những người cho dừng xe bị cáo là lực lượng tuần tra Công an xã vì có mặc đồng phục ngành và có nói chức vụ cho bị cáo biết, nhưng bản chất hung hăng xem thường pháp luật, bị cáo có hành động như thách thức, chửi lực lượng Công an xã LTT và đánh anh D là Công an viên đang thi hành công vụ tuần tra trật tự an toàn trên địa bàn xã. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn đó là tuần tra trật tự an toàn xã hội của lực lượng Công an, là những người đang thi hành công vụ. Để phòng ngừa chung và đảm bảo tính răn đe thì phải có hình phạt là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là việc cần thiết.

Án sơ thẩm đã cân nhắc xem xét toàn diện vụ án và áp dụng tất cả các tình tiết giảm nhẹ đó là: về nhân thân bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nhưng bản thân bị cáo có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích” Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt, về trách nhiệm dân sự chưa thi hành. Do đó Án sơ thẩm quyết định hình phạt đối với bị cáo 09 tháng tù là tương xứng, phù hợp với quy định của pháp luật và tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra, phù hợp với nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo.

Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo với lý do bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi vợ và con nhỏ. Xét các lý do bị cáo đặt ra không thuộc các tình tiết giảm nhẹ hay được hưởng án treo theo qui định. Mặc khác bị cáo đã có một tiền án về tội Cố ý gây thương tích nên lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Như vậy về nhân thân bị cáo đã có tiền án nên bị cáo không dủ điều kiện để được hưởng án treo theo qui định.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo L cũng xác định ngoài các lý do nêu trên thì không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ hay tình tiết giảm nhẹ nào mới nên kháng cáo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ nhận định trên nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo L, cần giữ nguyên án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh CM là phù hợp.

. Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

. Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tạ Văn L (Hoàng L).

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 38/2019/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Toà án nhân dân huyện CN.

Áp dụng: khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Tạ Văn L (Hoàng L) 09 (chín) tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo Tạ Văn L (Hoàng L) chấp hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Tạ Văn L (Hoàng L) phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ