vanban.org

Bản án 174/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bắc Giang Tuyên án 26/11/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/11/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứkhoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự và Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H, hủy bản án sơ thẩm số 62/2019/HSST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang và đìn…

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Văn H và anh Lâm Văn C đã thỏa thuận với nhau bồi thường đầy đủ. Do vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết. * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 ( một ) chiếc cà leo dài 176,5cm, cán dài 141,5c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "PHẠM VĂN HỌC - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứkhoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự và Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H, hủy bản án sơ thẩm số 62/2019/HSST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang và đìn…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2019/HS-PT
Ngày: 26/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Dung

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Gia Lương

Ông Nguyễn Văn Nhiên

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Tố Hoa- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tùng-Kiểm sát viên trung cấp.

Trong ngày 26/11/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 236/TLPT-HS ngày 11/10/2019đối với bị cáo Phạm Văn H do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2019/HS-ST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1973; sinh, trú quán: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh;tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ H vấn: 8/10; con ông: Phạm Văn T, sinh năm 1936 (đã chết) và bà:Nguyễn Thị T, sinh năm 1936; có vợ: Hoàng Thị L, sinh năm 1973, có 02 con: con lớn: Phạm Văn H, sinh năm 1996; con nhỏ: Phạm Thị H, sinh năm 1998; gia đình có 13 anh chị em ruột, bị cáo là thứ 09.

Nhân thân: Tại Bản án số24-HSST ngày 19/9/1992 của Tòa án nhân dân huyện L xử phạt Phạm Văn H 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộmcắp tài sản, thời gian thử thách là 24 tháng, buộc bồi thường 305.000 đồng, phải chịu 15.000 đồng án phí HSST và án phí dân sự. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính, bồi thường dân sự và các khoản án phí. Đến thời điểm phạm tội đã được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Có 01 tiền án

Tại bản án số 32/HSST ngày 19/4/2002 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xử phạt Phạm Văn H 42 tháng tù giam về tội Vi phạm quy định về điều khiển giao thông đường bộ. Buộc phải bồi thường số tiền 24.300.000 đồng cho gia đình nạn nhân và phải chịu 1.300.000 đồng án phí Hình sự và án phí dân sự sơ thẩm. Tháng 01/2004 Phạm Văn H đã chấp hành xong hình phạt tù, đối với khoản tiền bồi thường người được bồi thường chưa có đơn yêu cầu bồi thường. Hiện bị can chưa chấp hành xong tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm. Đến thời điểm phạm tội này bị can chưa được xóa án tích.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại không kháng cáo:

Anh Lâm Văn C - Sinhn¨m 1985. (Có mặt).

Trú quán: T, xã T, huyÖn L, tØnh Bắc Giang.

Ngoài ra, trong vụ án còn có người có quyền L, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nhưng do không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Buổi sáng ngày 27/9/2018 anh Lâm Văn C cầm theo một chiếc cà leo cán bằng tre rồi cùng em trai là anh Lâm Văn V đi đến vườn vải thiều của gia đình ở thôn T, xã T, huyện L để làm vườn. Do phần đất trên của gia đình anh C đang có tranh chấp với Phạm Văn H nên khi anh C và anh V đang làm vườn thì có ông Lê Đức Đ (là Công an viên thôn T, xã T) được cử đến phần đất đang tranh chấp để giải quyết. Khi đến ông Đại thấy anh C và anh V đang dọn lá vải để đốt thì ông Đại có yêu cầu anh em C không làm nữa. Lúc này Phạm Văn H đi đến ngăn cản không cho anh C và anh V tiếp tục làm. Hai bên lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau, thách thức nhau. H cầm chiếc mũ cối đang đội trên đầu ném vào mặt anh C nhưng bị sượt vào má, anh C cũng cầm mũ cối của mình ném về phía H nhưng không trúng, rồi H lao vào đấm đá vào người anh C. Lúc này H nhìn thấy chiếc cà leo có cán bằng tre, kích thước dài 176,5cm, trong đó phần cán tre dài 141,5cm, phần đầu cà leo bằng sắt dài 35cm của anh C để cách vị trí mình đứng khoảng 10 mét, H ra lấy chiếc cà leo, rồi dùng cà leo đập vào vùng lưng của anh C làm phần đầu bằng sắt của chiếc cà leo bị gãy khỏi cán, H tiếp tục dùng cán cà leo vụt một nhát trúng vào đầu của anh C làm anh C chảy máu. Anh C dùng tay giằng co cán cà leo với H. Trong lúc giằng co anh C dùng tay đấm vào mặt và vào vai của H, thấy vậy chị Hoàng Thị L (là vợ H) và ông Lê Đức Đ vào can ngăn. Trong lúc căn ngăn thì chị L bị vụt 01 nhát vào chân và 01 nhát vào đầu khiến chị bị choáng váng không biết gì nữa. Lúc này ông Đại tiếp tục căn ngăn thì hai bên thôi không đánh nhau nữa. Hậu quả anh Lâm Văn C, chị Hoàng Thị L bị thương tích được đưa đến Bệnh V đa khoa khu vực L điều trị, đến ngày 01/10/2018 thì chị L ra V, ngày 02/10/2018 thì anh C ra V.

Sau khi sự việc xảy ra Công an xã T, huyện L đến lập biên bản vụ việc tạm giữ vật chứng là 01 chiếc cà leo (loại 02 răng) đã bị gãy rời phần cán tre và phần đầu sắt, sau đó Công an xã T báo Công an huyện L đến khám nghiệm hiện trường.

Ngày 27/9/2018, Phạm Văn H, Lâm Văn C đã giao nộp cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L 01 chiếc mũ cối màu xanh, trên đỉnh có vết lõm, bên trong có nhiều vết nứt rạn.

Ngày 29/11/2018, Công an xã T đã chuyển hồ sơ vụ việc và tang vật cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại giấy Chứng nhận thương tích ngày 26/11/2018 của Bệnh V đa khoa huyện L xác định anh Lâm Văn C vào V lúc 10 giờ 52 ngày 27/9/2018, ra V lúc 16 giờ 00 ngày 02/10/2018:

+ Chẩn đoán: Vết thương hở da đầu, đa tổn thương nông vai, lưng, tay do bạo lực.

+ Tình trạng thương tích lúc vào V: Vùng thái dương đỉnh trái vết thương rách ra đầu 0,5cm, rỉ máu. Cẳng tay phải mặt sau ngoài 04 vết xước da kích thước 02cm; 2,5cm; 5cm; 3cm. Thành ngực trái, ngang vú lằn đỏ (6x1,5)cm. Thành ngực trước sát hố nách chấm sước da đỏ 1cm. Giữa lưng vết lằn đỏ 30cm. Mặt sau vai trái đám lằn đỏ (2,5x2,5)cm. Mặt sau trong cẳng tay trái nhiều đám nề tím, đỏ xem lẫn toàn bộ diện tích 2/3 diện tích trên (12x14)cm.

Ngày 17/12/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định số 29 đối với thương tích của anh Lâm Văn C. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 8623/18/TgT ngày 20/12/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định

- Thương tích tích vết sẹo vùng thái dương đỉnh trái: 01%.

- Thương tích chạm thương thành ngực trái ngang vú không còn dấu vết: 0%.

- Thương tích chạm thương thành ngực trước sát hố nách không còn dấu vết: 0%.

- Thương tích chạm thương mặt sau vai trái không còn dấu vết: 0%.

- Thương tích chạm thương giữa lưng không còn dấu vết: 0%.

- Thương tích chạm thương vùng cẳng tay phải không còn dấu vết: 0%.

- Thương tích chạm thương mặt sau trong cẳng tay trái không còn dấu vết: 0%.

2. Kết Luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01 %.

3. Kết luận khác:

- Vật, cơ chế và chiều hướng gây thương tích: Các thương tích do vật cứng gây nên, không xác định được chiều hướng gây thương tích.

- Các thương tích không ảnh hưởng đến thẩm mỹ.

Ngày 05/01/2019, anh Lâm Văn C có đơn gửi Công an huyện L yêu cầu khởi tố bị can đối với Phạm Văn H.

Ngày 07/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành thực nghiệm điều tra theo lời khai của Lâm Văn C, Phạm Văn H, Lê Đức Đ. Ngày 13/3/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định theo các tình huống thực nghiệm điều tra nêu trên. Tại bản kết luận giám định pháp y bổ sung số 8741/19/TgT ngày 19/3/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Bắc Giang kết luận:

- Không xác định được chiều hướng gây các vết thương tích.

- Theo tình huống thực nghiệm điều tra của Lâm Văn C thì chiếc gậy tre và đầu mũi cà leo gây được thương tích cho anh C.

- Theo tình huống thực nghiệm điều tra của Phạm Văn H gây được các thương tích vùng thái dương trái cho anh C.

- Theo tình huống thực nghiệm điều tra của Lê Văn Đại gây được các thương tích và thương tích vùng thái dương trái cho anh C.

- 02 (hai) mẫu vật gửi giám định tạo được thương tích của Lâm Văn C. Hai mẫu đều gây được thương tích vùng thái dương đỉnh trái; Đoạn gậy gây được các thương tích còn lại.

Ngày 26/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L cho Phạm Văn H nhận dạng qua ảnh chiếc cà leo đã thu giữ. Kết quả Phạm Văn H nhận dạng ra bản ảnh số 01 là bản ảnh của chiếc cà leo mà H đã dùng để gây thương tích cho anh C ngày 27/9/2018.

Lời khai nhận của H phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền L, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ.

Tại bản cáo trạng số: 51/CT - VKS- HS ngày 22 tháng 6 năm 2019, V kiểm sát nhân dân huyện L đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 62/2019/HS-ST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện L đã xét xử và quyết định:

Căn cứ vàođiểm akho¶n 1 §iÒu 134; điểm s khoản 1 Điều 51; điểmh kho¶n 1 §iÒu 52; §iÒu 38 Bé luËt h×nh sù;

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tôi “ Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 08 ( tám ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử xong, ngày 29/8/2019 bị cáo Phạm Văn H làm đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 09/10/2019 bị hại anh Lâm Văn C làm đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Ngày 22/11/2019 anhLâm Văn Ccó đơn xin rút yêu cầu khởi tố với lý do bị cáo H đã ăn năn, hối cải, đã tự nguyện khắc phục, bồi thường thiệt hại, anh C không có yêu cầu gì nữa.

Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay, bị cáo Phạm Văn Hthay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị HĐXX Đình chỉ vụ án vì anh Lâm Văn C là bị hại có đơn rút yêu cầu khởi tố. Giữa bị cáo và bị hại anh C đã bồi thường xong toàn bộ như án sơ thẩm đã quyết định, anh C không yêu cầu bồi thường gì nữa.

Anh Lâm Văn C vẫn giữ nguyên nội dung đơn xin rút yêu cầu khởi tố vì bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho anh theo như án sơ thẩm tuyên, anh không yêu cầu gì nữa và bị cáo đã xin lỗi anh C.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà bị cáo, bị hại nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án.

Bị cáo H và anh C đều đồng ý với quan điểm của V kiểm sát, không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo Phạm Văn H: Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Phạm Văn Hđã nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp cần được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn H, qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như quá trình xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm thấy đủ cơ sở xác định:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 27/9/2018 do có mẫu thuẫn trong việc tranh chấp đất đai tại thôn T, xã T, huyện L nên giữa anh Lâm Văn C và Phạm Văn H đã xảy ra cãi vã, sô sát với nhau. Quá trình xảy ra sô sát Phạm Văn H đã dùng chiếc cà leo kích thước dài 176,5cm, trong đó phần cán tre dài 141,5cm, phần đầu cà leo bằng sắt dài 35cm là hung khí nguy hiểm đánh anh C, trong đó có 01 nhát trúng vào vùng thái dương đỉnh trái gây tổn thương cho anh C 01% sức khỏe.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Phạm Văn Hthừa nhận toàn bộ hành vi như án sơ thẩm nêu là đúng, không oan. Bản án hình sự sơ thẩm số62/2019/HS-ST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xét xử bị cáo Phạm Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 củaBộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Hthấy:

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, ...

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã từng phạm tội và bị Tòa án xét xử đến nay chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài H mà còn tiếp tục phạm tội, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng hình phạt quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy mức án do Tòa án cấp sơ thẩm tuyên 08 tháng tù là có căn cứ, đúng pháp luật và phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Đến giai đoạn xét xử phúc thẩm bị hại anh Lâm Văn C có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo H, bị cáo H có bổ sung kháng cáo tại phiên tòa đề nghị đình chỉ vụ án và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xét thấy: Việc bị hại anh C có đơn xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáoH là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai cưỡng bức, ép buộc hay hướng dẫn, việc bị cáo H đề nghị đình chỉ vụ án là đúng với quy định của pháp luật.

Căn cứ khoản 2 Điều 155, Điều 359 Bộ luật tố tụng hình sự và Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H để hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án vì lý do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm, bị hại không có quyền yêu cầu bồi thường do đình chỉ vụ án.

Án phí: bị cáo H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứkhoản 2 Điều 155 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng hình sự và Công văn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn H, hủy bản án sơ thẩm số 62/2019/HSST ngày 28/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang và đình chỉ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Văn H và anh Lâm Văn C đã thỏa thuận với nhau bồi thường đầy đủ. Do vậy, không đặt ra xem xét, giải quyết.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 ( một ) chiếc cà leo dài 176,5cm, cán dài 141,5cm đầu to rộng 03cm, đầu nhỏ rộng 02cm, phần cà leo sắt dài 35cm, hai đầu nhọn cách nhau 14cm; 02 (hai ) chiếc mũ cối màu xanh, có nhiều vết rạn nứt.

[2] Án phí: Áp dụng Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Phạm Văn H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ