- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Quốc K là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TAN CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 174/2019/HNGĐ-ST Ngày: 25/4/2019 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng Anh;
2. Bà Thi Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Công Minh, Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia
Ngày 25 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 425/2018/TLST-HNGĐ ngày 10/12/2018 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1997; địa chỉ cư trú: Tổ 25, ấp 2, xã Thường Phước 2, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; có mặt
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc K, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú: Tổ 29, ấp Phú An A, xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 16/11/2018, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị H trình bày: Do chị H và anh K tự tìm hiểu yêu thương được cha mẹ hai bên đồng ý và đi đến hôn nhân, anh chị tổ chức lễ cưới vào năm 2015 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại xã Phú Vĩnh. Đến tháng 5/2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, sống không hợp, gia đình hai bên có hòa giải nhiều lần nhưng không thành, chị H đã tự bỏ về nhà cha mẹ chị từ tháng 5/2018 đến nay. Tình cảm của chị H đối với anh K không còn, yêu cầu ly hôn với anh K.
Về con chung: Trong thời kỳ sống chung, chị H và anh K có 01 con chung tên Nguyễn Thiên V, sinh ngày 27/3/2016. Chị H đồng ý giao con cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng. Chị H không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Quốc K trình bày: Do anh K và chị H tự tìm hiểu yêu thương được cha mẹ hai bên đồng ý và đi đến hôn nhân, anh chị tổ chức lễ cưới vào năm 2015 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc tại xã Phú Vĩnh. Đến tháng 5/2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, sống không hợp, gia đình hai bên có hòa giải nhiều lần nhưng không thành, chị H đã tự bỏ về nhà cha mẹ chị từ tháng 5/2018 đến nay. Tình cảm của vợ chồng không còn, nay chị H yêu cầu ly hôn với anh K. Anh K đồng ý ly hôn với chị H.
Về con chung: Trong thời kỳ sống chung, anh K và chị H có con chung tên Nguyễn Thiên V, sinh ngày 27/3/2016. Anh K yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh K không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải, hai bên đều thống nhất toàn bộ về tự thỏa thuận ly hôn và thỏa thuận nuôi con, nhưng do hai người không có đăng ký kết hôn nên Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, chị H và anh K vẫn giữ nguyên yêu cầu và quan điểm của mình,
Chị H với anh K xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử gọi (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng:
Thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị H khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” với anh anh Nguyễn Quốc K, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú: Tổ 29, ấp Phú An A, xã Phú Vĩnh, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quốc K có tổ chức lễ cưới vào năm 2015 nhưng hai người không có đăng ký kết hôn đã vi phạm vào Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình. Xét, hôn nhân giữa chị H và anh K là không hợp pháp nhưng vẫn được pháp luật xem xét.
Chị H và anh K khai thống nhất với nhau, hai người tổ chức lễ cưới vào năm 2015, khi đó cả hai anh chị đều đến tuổi đăng ký kết hôn. Nhưng sau đó anh chị vẫn tiếp tục sống chung nhau đến năm 2018 thì mới xảy ra mâu thuẫn như vậy, cả hai người đều đã đủ điều kiện đăng ký kết hôn, nhưng chị H với anh K vẫn không thực hiện nghĩa vụ đi đăng ký kết hôn, nên quan hệ giữa chị H với anh K không làm phát sinh nghĩa vụ vợ chồng theo quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, mặc dù anh chị đã thống nhất thuận tình ly hôn nhưng không được pháp luật công nhận. Do đó, HĐXX nên tuyên không công nhận giữa chị H với anh K là vợ chồng, phù hợp pháp luật.
Về con chung: Giữa chị H với anh K khai thống nhất với nhau hai người có 01 con chung tên Nguyễn Thiên V, sinh ngày 27/3/2016 đang sống với anh K. Chị H thống nhất giao con cho anh K được tiếp tục nuôi dưỡng, chị H không cấp dưỡng nuôi con chung. Anh K yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Xét, sự thỏa thuận giữa chị H với anh K giao cháu Nguyễn Thiên V cho anh K nuôi dạy cho đến khi cháu thành niên và có khả năng lao động theo thỏa thuận giữa chị H với anh K là hợp lý.
Anh K cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị H trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng: Anh K không yêu cầu chị H cấp dưỡng để nuôi dạy con chung. Xét, không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H và anh K không yêu cầu giải quyết. Xét, không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; anh Nguyễn Quốc K không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
(Theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 14, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Về hôn nhân: Không công nhận chị Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Quốc K là vợ chồng.
Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Nguyễn Thị H với anh Nguyễn Quốc K giao cháu Nguyễn Thiên V, sinh ngày 27/3/2016 cho anh Nguyễn Quốc K được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên và có khả năng lao động. Chị Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Nguyễn Quốc K cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Nguyễn Thị H trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số: 0009592 ngày 07 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu.
Anh Nguyễn Quốc K không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Quốc K có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND TX (2); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Thi hành án DS TX (1); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ (1), - Lưu văn phòng (1). | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thế Minh |