vanban.org

Bản án 1736/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/11/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đỗ Diên H-Huỳnh Thị Bạch L1"
  • Căn cứ chính? Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 1736/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 21-11-2019
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Xuân Hải

Bà Trần Thị Bích Vân

Thư"ký"phiên"tòa: Ông Bùi Trường An - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân"Thành"phố"Hồ"Chí"Minh không tham"gia" phiên"tòa.

Trong ngày 21 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 559/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5488/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đỗ Diên H, sinh năm 1955.

Địa chỉ: đường T, phường I, quận R, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Bạch L1, sinh năm 1963.

Địa chỉ: SW Salix Ridge St Beaverton, OR 97006, USA.

(Các đương sự đều có yêu cầu xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn xin ly hôn ngày 30/9/2019 và Bản tự khai ngày 28/10/2019, nguyên đơn là ông Đỗ Diên H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Huỳnh Thị Bạch L1 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 030 quyển số 01/98 ngày 16/4/1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chung sống bình thường, nhưng đến khoảng tháng 6/2017 thì giữa ông và bà L1 bắt đầu nảy sinh bất hòa dẫn đến mâu thuẫn do tính cách hai bên không còn hòa hợp, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Suốt một thời gian dài cho đến nay, vợ chồng ông bà gần như đã sống ly thân, đời sống hôn nhân nặng nề, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Khoảng đầu tháng 8/2019, bà L1 đưa 02 con chung cùng đi Mỹ và thông báo cho ông là bà L1 không quay về Việt Nam nữa. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Huỳnh Thị Bạch L1. Về con chung: Ông khai giữa ông và bà Huỳnh Thị Bạch L1 có 02 con chung tên Đỗ Ngọc Hồng L2 (Giới tính: Nữ), sinh ngày 24/4/2000, đã trưởng thành, và trẻ Đỗ Huỳnh Tâm P (Giới tính: Nam), sinh ngày 06/5/2012, hiện đều sống cùng mẹ là bà Huỳnh Thị Bạch L1 tại Mỹ. Ông tự nguyện đồng ý cho bà L1 được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ P và đồng ý cấp dưỡng nuôi trẻ P mỗi tháng là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi trẻ P tròn 18 tuổi. Về tài sản chung: Ông khai giữa ông và bà Huỳnh Thị Bạch L1 không có tài sản chung. Về nợ chung: Ông khai giữa ông và bà Huỳnh Thị Bạch L1 không có nợ chung. Theo Bản tự khai và trình bày lập ngày 20/10/2019, đã được Tổng Lãnh Sự Quán nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Xan-phran-xi-xco, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ chứng nhận/hợp pháp hóa lãnh sự ngày 24/10/2019, bị đơn là bà Huỳnh Thị Bạch L1 trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Đỗ Diên H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 030 quyển số 01/98 ngày 16/4/1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chung sống bình thường, nhưng đến khoảng tháng 6/2017 thì giữa bà và ông H bắt đầu nảy sinh bất hòa dẫn đến mâu thuẫn do tính cách hai bên không còn hòa hợp, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Suốt một thời gian dài cho đến nay, vợ chồng ông bà gần như đã sống ly thân, đời sống hôn nhân nặng nề, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Tháng 8/2019, bà đưa 02 con chung cùng đi Mỹ, hiện bà và 02 con chung đang ổn định công việc và học tập tại Mỹ. Bà xác nhận những lời trình bày trong Đơn xin ly hôn đề ngày 30/9/2019 của ông H là đúng nên bà đồng ý ly hôn với ông Đỗ Diên H. Về con chung: Bà khai giữa bà và ông Đỗ Diên H có 02 con chung tên Đỗ Ngọc Hồng L2 (Giới tính: Nữ), sinh ngày 24/4/2000, đã trưởng thành, và trẻ Đỗ Huỳnh Tâm P (Giới tính: Nam), sinh ngày 06/5/2012, hiện đều sống cùng bà tại Mỹ. Bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng trẻ P cho đến khi trẻ P trưởng thành và không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bà khai giữa bà và ông Đỗ Diên H không có tài sản chung. Về nợ chung: Bà khai giữa bà và ông Đỗ Diên H không có nợ chung. Tại phiên tòa sơ thẩm: Nguyên đơn là ông Đỗ Diên H và bị đơn là bà Huỳnh Thị Bạch L1 đều có yêu cầu xin được xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định: Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Vào ngày 30/9/2019, ông Đỗ Diên H có Đơn xin ly hôn, yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận cho ông Đỗ Diên H được ly hôn với bà Huỳnh Thị Bạch L1. Do bà Huỳnh Thị Bạch L1 đang cư trú tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Khoản 3 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện nêu trên của ông Đỗ Diên H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Về tố tụng:

Nguyên đơn là ông Đỗ Diên H có yêu cầu xin được xét xử vắng mặt theo Đơn xin được xét xử vắng mặt ngày 28/10/2019, đồng thời bị đơn là bà Huỳnh Thị Bạch L1 cũng yêu cầu xin được xét xử vắng mặt theo Bản tự khai và trình bày lập ngày 20/10/2019, đã được Tổng Lãnh Sự Quán nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Xan-phran-xi-xco, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ chứng nhận/hợp pháp hóa lãnh sự ngày 24/10/2019, nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 207, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 và Điểm a Khoản 1 Điều 478 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Giữa ông Đỗ Diên H và bà Huỳnh Thị Bạch L1 có quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp và thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Căn cứ vào các chứng cứ mà Tòa án thu thập được từ Bản tự khai ngày 28/10/2019 của ông Đỗ Diên H và Bản tự khai và trình bày lập ngày 20/10/2019 của bà Huỳnh Thị Bạch L1, đã được Tổng Lãnh Sự Quán nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Xan-phran-xi-xco, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ chứng nhận/hợp pháp hóa lãnh sự ngày 24/10/2019, hai bên thống nhất thuận tình ly hôn nên có cơ sở xác định rằng mục đích của hôn nhân giữa ông Đỗ Diên H và bà Huỳnh Thị Bạch L1 đã không đạt được. Do đó Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Diên H xin được ly hôn với bà Huỳnh Thị Bạch L1.

Về con chung: Ông Đỗ Diên H và bà Huỳnh Thị Bạch L1 có 02 con chung tên Đỗ Ngọc Hồng L2 (Giới tính: Nữ), sinh ngày 24/4/2000, đã trưởng thành, và trẻ Đỗ Huỳnh Tâm P (Giới tính: Nam), sinh ngày 06/5/2012, hiện đều sống cùng bà Huỳnh Thị Bạch L1 tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ.

Trẻ Đỗ Huỳnh Tâm P có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ theo Đơn trình bày nguyện vọng đề ngày 20/10/2019 của trẻ Đỗ Huỳnh Tâm P, đã được Tổng Lãnh Sự Quán nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Xan-phran-xi-xco, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ chứng nhận/hợp pháp hóa lãnh sự ngày 24/10/2019.

Do đó, để đảm bảo sự ổn định đối với cuộc sống của trẻ Đỗ Huỳnh Tâm P thì giao trẻ Đỗ Huỳnh Tâm P cho bà Huỳnh Thị Bạch L1 được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trẻ Đỗ Huỳnh Tâm P trưởng thành và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Đỗ Diên H do bà Huỳnh Thị Bạch L1 không yêu cầu.

Về tài sản chung: Ông Đỗ Diên H và bà Huỳnh Thị Bạch L1 đều khai không có tài sản chung, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Ông Đỗ Diên H và bà Huỳnh Thị Bạch L1 đều khai không có nợ chung, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Diên H là nguyên đơn có yêu cầu ly hôn nên căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, ông Đỗ Diên H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 228, Điểm a Khoản 2 Điều 478 và Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2016;

- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Đỗ Diên H như sau: 1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Đỗ Diên H và bà Huỳnh Thị Bạch L1 thuận tình ly hôn. Quan hệ hôn nhân giữa ông Đỗ Diên H và bà Huỳnh Thị Bạch L1 chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Giấy chứng nhận kết hôn số 030 quyển số 01/98 ngày 16/4/1998 do Ủy ban nhân dân Phường 6, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị. 2. Về con chung: Đối với con chung tên Đỗ Ngọc Hồng L2 (Giới tính: Nữ), sinh ngày 24/4/2000, đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét, giải quyết. Giao trẻ Đỗ Huỳnh Tâm P (Giới tính: Nam), sinh ngày 06/5/2012 cho bà Huỳnh Thị Bạch L1 được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trẻ Đỗ Huỳnh Tâm P trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với ông Đỗ Diên H do bà Huỳnh Thị Bạch L1 không yêu cầu. Ông Đỗ Diên H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Bà Huỳnh Thị Bạch L1 có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông Đỗ Diên H, nếu ông Đỗ Diên H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; Cơ quan Quản lý nhà nước về Gia đình; Cơ quan Quản lý nhà nước về Trẻ em; Hội Liên hiệp Phụ nữ thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. 3. Về tài sản chung: Ông Đỗ Diên H và bà Huỳnh Thị Bạch L1 đều khai không có tài sản chung, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về nợ chung:

Ông Đỗ Diên H và bà Huỳnh Thị Bạch L1 đều khai không có nợ chung, nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

5. Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Đỗ Diên H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí ông Đỗ Diên H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0024660 ngày 08/10/2019 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đỗ Diên H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

6. Về quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm:

Ông Đỗ Diên H vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nên quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đối với ông Đỗ Diên H là 15 ngày, kể từ ngày ông Đỗ Diên H được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Bà Huỳnh Thị Bạch L1 vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, nên quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đối với bà Huỳnh Thị Bạch L1 là 01 tháng, kể từ ngày bà Huỳnh Thị Bạch L1 được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi"nhận:"

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Tối cao;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- TAND Cấp cao tại TP.HCM;

- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;

- VKSND TP.HCM;

- Cục THADS TP.HCM;

- UBND Phường 6, Quận 4, TP.HCM;

- Các đương sự;

- Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

Võ Thị Mỹ Hạnh

Cỡ chữ