- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động"
- Tòa quyết gì? Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được s a đổi, bổ sung năm 2014;
- Căn cứ chính? Điều 4 Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH Hướng dẫn thực hiện một số đi…; Điều 36 Bộ luật Lao động; Điều 38 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 173/2023/LĐ-PT Ngày: 20/02/2023 V/v Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Trúc Các Thẩm phán:
Ông Bùi Liên Minh
Bà Nguyễn Thị Thoa
- Thư ký phiên tòa:
Ông Chu Minh Sang
Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Minh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh t
phúc th m công khai vụ án lao động thụ lý số 109/2022/TLPT-LĐ ngày 28 tháng 12 năm 2022, về vi c Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do Bản án lao động sơ th m số 22/2022/LĐ-ST ngày 19 tháng 10 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t số 55/2023/QĐ-PT ngày 10 tháng 01 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc th m số 1119/2023/QĐ-PT ngày 08 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị M, sinh năm 1966.
Địa chỉ: A B, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại di n theo ủy quyền: Ông Hồ Đức T, sinh năm 1990 (có mặt).
Địa chỉ: G N, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số công chứng: 003689, quyển số: 05/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 31/5/2022 tại Văn phòng C). 2. Bị đơn: Công ty Cổ phần M2.
Trụ sở: 6 N, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại di n theo ủy quyền: Bà Phan Thu T1, sinh năm 1996 (có mặt).
Địa chỉ: I N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền số 08.2021/GUQ-HN ngày 26/4/2021).
Người bảo v quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Trung H - Luật sư Văn phòng L - Đoàn Luật sư Thành phố H.
Địa chỉ: I N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bà Hoàng Thị M - Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 01/3/2021, nộp cho Tòa án ngày 04/3/2021; Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung đề ngày 05/7/2022 cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Hoàng Thị M do ông Hồ Đức T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 17/3/2005, bà Hoàng Thị M và Công ty Cổ phần M2 (sau đây gọi tắt là Công ty) ký Hợp đồng lao động số 4308 có thời hạn 01 năm, kể ngày 17/3/2005 đến ngày 17/3/2006, bắt đầu làm vi c tại Công ty từ ngày 17/3/2005. Hết thời hạn của hợp đồng này, bà M tiếp tục làm vi c tại Công ty cho cho đến ngày 05/11/2020.
Trong thời gian làm vi c, bà M không có bất kỳ vi phạm hay sự thỏa thuận nào về vi c chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn. Tuy nhiên, tháng 9/2020 (nguyên đơn không nhớ chính ác ngày), Công ty đột ngột thông báo cho bà M nghỉ vi c từ ngày 05/11/2020 với lý do thu hẹp sản uất do dịch b nh. Bà M không đồng ý và sau nhiều lần khiếu nại nhưng Công ty đã ban hành quyết định cho bà M nghỉ vi c.
Theo Quyết định số 607/QĐ/TCLĐ-HCQT ngày 20/10/2020 cho cán bộ công nhân viên nghỉ vi c, Công ty trả cho bà số tiền 11.998.000 đồng và Danh sách chi trả trợ cấp theo Thông báo số 35/TB ngày 30/11/2016 trợ cấp mỗi năm làm vi c ½ tháng lương là 7.866.000 đồng kèm đơn cam kết nhận tiền thâm niên thay tiền trợ cấp thôi vi c ngày 09/12/2016. Bà M thừa nhận đã nhận 02 khoản tiền trên của Công ty với tổng số tiền 19.864.000 đồng, tuy nhiên đây là tiền hưởng thâm niên nghề vì làm vi c lâu năm trong Công ty chứ không phải tiền trợ cấp buộc thôi vi c và nhận hai kỳ, kỳ thứ nhất vào ngày 09/12/2016 và kỳ thứ hai là ngày 05/11/2020, số tiền 11.998.000 đồng.
Nhận thấy Công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, ngày 05/11/2020, bà M đã g i đơn đến Phòng L1 khiếu nại vi c Công ty cho bà M nghỉ vi c, yêu cầu Công ty thực hi n trả đầy đủ cho bà M số tiền trợ cấp mất vi c là 39.728.000 đồng; thực hi n hoàn thành thủ tục ác nhận và trả lại sổ bảo hiểm ã hội cho bà M theo quy định pháp luật.
Ngày 20/10/2020, Phòng L1 lập Biên bản hòa giải không thành do bà M không đồng ý.
Ngày 04/3/2021, bà M đã nộp đơn khởi ki n Công ty tại Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Hủy quyết định cho nghỉ vi c trái pháp luật của Công ty Cổ phần M2 và yêu cầu Công ty nhận bà M trở lại làm vi c theo hợp đồng lao động đã ký;
2. Thanh toán tổng số tiền là 154.949.132 đồng do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (tạm tính từ ngày 05/11/2020 đến ngày 19/10/2022), cụ thể như sau:
+ Thanh toán tiền lương trong thời gian bà M không được làm vi c với số tiền 118.190.800 đồng;
+ Thanh toán tiền bảo hiểm ã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghi p, với số tiền 26.443.332 đồng;
+ Bồi thường 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật tương đương số tiền là: 4.966.000 đồng 02 tháng = 9.932.000 đồng.
Tại phiên tòa sơ th m, người đại di n hợp pháp của bà M thay đổi ý kiến, khẳng định in rút một phần yêu cầu cụ thể như sau: Rút yêu cầu khởi ki n theo đơn khởi ki n đề ngày 01/3/2021, nộp cho Tòa án ngày 04/3/2021, đối với nội dung Công ty Cổ phần M2 thực hi n trả đầy đủ cho bà M số tiền trợ cấp mất vi c là 39.728.000 đồng; Công ty thực hi n hoàn thành thủ tục ác nhận và trả lại sổ bảo hiểm ã hội cho bà M theo quy định. Do trước đây bà M không am hiểu pháp luật nên đã có yêu cầu như đơn khởi ki n nộp ngày 04/3/2021, Công ty đã trả đủ số tiền trợ cấp thôi vi c cho bà M và bà M đã nhận sổ bảo hiểm ã hội theo quy định nên in rút yêu cầu khởi ki n đối với phần này. Bà M yêu cầu Tòa án em t giải quyết: Hủy quyết định cho nghỉ vi c trái pháp luật của Công ty Cổ phần M2 và yêu cầu Công ty nhận bà M trở lại làm vi c theo hợp đồng lao động đã ký; thanh toán cho bà M tổng số tiền là 154.949.132 đồng (một trăm năm mươi bốn tri u chín trăm bốn mươi chín nghìn một trăm ba mươi hai đồng) do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật (tính đến ngày 19/10/2022). Bị đơn Công ty Cổ phần M2 do bà Phan Thu T1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Công ty ác nhận bà Hoàng Thị M bắt đầu làm vi c tại Công ty theo Hợp đồng lao động số 4308 ngày 17/3/2005 cho đến ngày 05/11/2020 như nguyên đơn trình bày. Do ảnh hưởng của dịch b nh viêm đường hô hấp cấp Covid-19 kể từ đầu năm 2020, các doanh nghi p trong và ngoài nước đã bị tác động nặng nề về mặt kinh tế, Công ty Cổ phần M2 cũng không ngoại l . Dù là điều không mong muốn nhưng Công ty buộc phải thu hẹp sản uất do dịch b nh Covid-19, không thể giải quyết vi c làm cho người lao động, đã tìm mọi bi n pháp khắc phục như Công ty đã cố gắng tạo vi c làm cho người lao động để họ vẫn được nhận mức lương cơ bản để trang trải cuộc sống, dù các đơn hàng của Công ty đã bị hủy và trì hoãn vi c thực hi n, thay vì nếu Công ty thực hi n các bi n pháp hoãn thực hi n hợp đồng lao động thì người lao động lại không có lương và không biết sẽ hoãn đến khi nào. Hay giải pháp tạm thời chuyển người lao động làm công vi c khác thì lại không thực hi n được, bởi dịch b nh ảnh hưởng đến tất cả các bộ phận trong dây chuyền sản uất, vi c làm mới không có thì cũng không thể chuyển người lao động làm vi c khác, mà làm công vi c khác thì được hưởng chỉ 85% mức lương. Sau khi suy t, Công ty C1 vẫn cho công nhân thực hi n các đơn hàng bị hủy để tạo công vi c cho công nhân làm và dùng ngân sách dự trữ để trả lương là phương án tốt nhất cho người lao động. Bởi nếu thực hi n vi c tạm hoãn hợp đồng lao động hay chuyển làm công vi c khác có thời hạn thì thu nhập giảm hoặc không có thu nhập, tình hình cuộc sống sẽ khó khăn hơn nhiều, mà tình hình dịch b nh thì vẫn đang ngày một gia tăng, chưa có vắc in, nên các phương án này không thể thực hi n được. Dưới sự tác động nặng nề của dịch b nh Covid-19 đối với doanh nghi p trong và ngoài nước, nắm bắt được tình hình đó, Bộ L2 đã ban hành Công văn số 1064 ngày 25/3/2020 để đưa ra các phương án hỗ trợ cứu lấy doanh nghi p thoát khỏi sự khủng hoảng về thị trường và nguồn nguyên vật li u. Bên cạnh đó, Bộ Y và Chính phủ cũng đã nhận thấy sự nguy hiểm của dịch b nh Covid-19 nên sau thời gian dịch b nh bắt đầu bùng phát năm 2020 thì đến ngày 01/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định công bố dịch Covid-19 là dịch b nh truyền nhiễm nhóm A, nguy cơ ở mức độ đại dịch toàn cầu theo đề nghị của Bộ Y. Dù đã cố gắng áp dụng mọi bi n pháp nhưng dịch b nh Covid-19 đã ảnh hưởng đến thị trường và nguồn nguyên vật li u k o dài từ tháng 03/2020 nên Công ty buộc phải thu hẹp sản uất, giảm chỗ làm vi c nên phải kết thúc trước thời hạn với một bộ phận người lao động. Công ty đã có văn bản đề nghị giảm lao động tại Xí nghi p 5 trình Ban chấp hành Công đoàn và đã được công đoàn thống nhất ý kiến về kế hoạch giảm lao động. Đồng thời, Công ty có g i Phương án s dụng lao động lên Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố H để thông báo. Khi cho người lao động nghỉ vì dịch b nh, Công ty cũng đã thực hi n theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định như sau:
Thông báo cho người lao động biết trước ít nhất 45 ngày: Công ty đã thông báo cho bà Hoàng Thị M vào ngày 21/9/2020 về vi c chấm dứt Hợp đồng lao động đối với bà M và theo Quyết định số 607/QĐ/TCLĐ-HCQT ngày 20/10/2020 thì bà M sẽ nghỉ vào ngày 05/11/2020.
Công ty đã chi trả trợ cấp thôi vi c cho người lao động (năm 2016) và chi trả thêm đối với những ai thực hi n theo Thông báo số 35 năm 2016. Tổng cộng số tiền trợ cấp thôi vi c bà M nhận được là 19.864.000 đồng, tương ứng mỗi năm làm vi c sẽ nhận được 01 tháng lương theo hợp đồng lao động thay vì theo luật quy định là 01 năm được nhận 1/2 tháng lương. Vi c cho người lao động nghỉ vi c vì dịch b nh (theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012; điểm a khoản 2 Điều 12 Nghị định 05/2015/NĐ-CP) là phù hợp theo quy định pháp luật hi n hành, theo sự hướng dẫn của Bộ L2, phù hợp với tình hình thực tế của Công ty. Vi c chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty đối với bà Hoàng Thị M đã thực hi n theo quy định của pháp luật nên không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn.
Tại Bản án lao động sơ th m số 22/2022/LĐ-ST ngày 19/10/2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn về vi c: Hủy quyết định cho nghỉ vi c trái pháp luật của Công ty Cổ phần M2; nhận bà M trở lại làm vi c theo hợp đồng lao động đã ký; buộc Công ty có trách nhi m trả cho bà Hoàng Thị M tổng số tiền 154.949.132 đồng (một trăm năm mươi bốn tri u chín trăm bốn mươi chín nghìn một trăm ba mươi hai đồng). Ngoài ra, bản án sơ th m còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của đương sự trong giai đoạn thi hành án, thời hạn thi hành án.
Ngày 19/10/2022, nguyên đơn bà Hoàng Thị M nộp Đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án lao động sơ th m, yêu cầu Tòa án cấp phúc th m s a bản án sơ th m, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc th m, các đương sự không thống nhất được cách giải quyết toàn bộ vụ án.
Nguyên đơn bà Phan Thị M1 do ông Hồ Đức T đại di n theo ủy quyền vẫn giữ nguyên các yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng t s a toàn bộ bản án lao động sơ th m theo hướng chấp nhận toàn yêu cầu của nguyên đơn.
Bị đơn Công ty Cổ phần M2 do bà Phan Thu T1 đại di n theo ủy quyền không đồng ý toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng t giữ nguyên bản án lao động sơ th m, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn.
Người bảo v quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn – Luật sư Nguyễn Trung H trình bày:
Công ty đã thông báo đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố H về vi c chấm dứt hợp đồng lao động vì lý do kinh tế, do ảnh hưởng của dịch b nh Covid 19 và đã cho người lao động biết thông báo này. Công ty ác định vi c chấm dứt hợp đồng lao động với bà M1 đúng quy định của pháp luật và đã hoàn thành nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Căn cứ khoản 10 Điều 36, các Điều 38, 44, 46 của Bộ luật Lao động 2012 và khoản 3 Điều 13 Nghị định 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ, người bảo v quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng t không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án lao động sơ th m.
Kiểm sát viên - Vi n kiểm sát nhân dân Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về vi c tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc th m:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng th m quyền. Th m phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Có thông báo bằng văn bản cho các đương sự và Vi n kiểm sát cùng cấp về vi c thụ lý vụ án, quyết định t cùng hồ sơ vụ án chuyển Vi n kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng t , Thư ký Tòa án, người tham gia tố tụng đã thực hi n đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật thực hi n đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Căn cứ những tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa. X t thấy kháng cáo của nguyên đơn bà Hoàng Thị M không có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Vi n kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng t không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ th m số 22/2022/LĐ-ST ngày 19/10/2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được th m tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và kết luận của đại di n Vi n kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vi c chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng t nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo đề ngày 19/10/2022 của nguyên đơn thực hi n trong thời hạn luật định nên được Tòa án cấp phúc th m chấp nhận.
Vi c ác định th m quyền, quan h tranh chấp vụ án của Tòa án cấp sơ th m phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên được Tòa án cấp phúc th m chấp nhận.
Về thời hi u khởi ki n: Ngày 20/10/2020, Công ty B Quyết định số 607/QĐ/TCLĐ-HCQT có nội dung chấm dứt hợp đồng lao động với bà Hoàng Thị M kể từ ngày 05/11/2020. Ngày 04/3/2021, bà M nộp đơn khởi ki n Công ty tại Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Điều 202 Bộ luật Lao động năm 2012, vi c khởi ki n của nguyên đơn vẫn còn trong thời hi u khởi ki n nên được chấp nhận.
X t yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Hoàng Thị M:
Căn cứ các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và sự ác nhận của đương sự, có cơ sở để Hội đồng t
ác định giữa bà Hoàng Thị M và Công ty M2 ký Hợp đồng lao động số 4308 Ngày 17/3/2005 có thời hạn 01 năm, kể ngày 17/3/2005 đến ngày 17/3/2006; chức vụ: Công nhân may phụ trách chuyền í nghi p D, thời gian làm vi c: 8 giờ/ngày; được cấp phát những dụng cụ làm vi c: theo điều ki n làm vi c thực tế; phương ti n đi lại làm vi c: cá nhân tự túc; mức lương: bậc 2/6- h số 1,58 được trả 2 lần vào các ngày 10 và ngày 15 hàng tháng; phụ cấp theo chế độ nhà nước hi n hành. Hết thời hạn của hợp đồng này, Công ty và bà M ký các phụ lục hợp đồng thay đổi mức lương, cấp bậc của bà M. Ngày 18/01/2020, Công ty và bà M ký phụ lục hợp đồng lao động với nội dung: Thay đổi mức lương cấp bậc cho bà M từ mức lương cũ 4.697.000 đồng thành mức lương cấp bậc mới là 4.966.000 đồng (tính từ ngày 01/01/2020).
Căn cứ Biên bản ý kiến về vi c giảm lao động do ảnh hưởng dịch Covid ngày 05/9/2020 của Ban chấp hành công đoàn Công ty g i Tổng giám đốc Công ty về vi c thống nhất với ý kiến của người s dụng lao động về kế hoạch giảm lao động, ngày 09/9/2020 Công ty có công văn số 09/HN-SLĐ g i Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố H thông báo tình hình sắp ếp lao động do tình hình dịch b nh Covid-19 đang diễn biến phức tạp trên toàn cầu, gây ảnh hưởng đến hoạt động sản uất, kinh doanh của Công ty, dù Công ty đã dùng mọi bi n pháp để khắc phục nhưng buộc phải thu hẹp vi c sản uất kinh doanh để duy trì hoạt động. Ngày 11/9/2020, Công ty lập phương án s dụng lao động g i đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố H thông báo về khó khăn: Do ảnh hưởng dịch Covid-19 nên thị trường truyền thống N, Mỹ bị thu hẹp, số lượng đơn hàng hủy nhiều, không có đơn hàng mới. Ngày 21/9/2020, Công ty B về vi c chấm dứt hợp đồng lao động với bà Hoàng Thị M kể từ ngày 05/11/2020 do ảnh hưởng dịch b nh Covid-19 phải thu hẹp quy mô sản uất. Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ác nhận đã nhận được thông báo này vào ngày 21/9/2020. Đến ngày 20/10/2020, Công ty ban hành Quyết định 607/QĐ/TCLĐ-HCQT chấm dứt hợp đồng lao động với bà M kể từ ngày 05/11/2020 với lý do: Do thu hẹp sản uất (ảnh hưởng của dịch covid 19), đồng thời bà M sẽ được hưởng khoản trợ cấp thôi vi c trước năm 2008, hưởng bảo hiểm thất nghi p theo quy định của pháp luật.
Điểm a khoản 2 Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước: a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn”. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà M ác nhận ngày 20/10/2020 đã được Công ty giao Quyết định 607/QĐ/TCLĐ-HCQT ngày 20/10/2020 chấm dứt hợp đồng lao động với bà M kể từ ngày 05/11/2020.
Hội đồng t
t thấy, trước khi ban hành 607/QĐ/TCLĐ-HCQT ngày 20/10/2020, Công ty đã thực hi n các thủ tục: Trao đổi với Ban chấp hành công đoàn cơ sở; lập phương án s dụng lao động và có văn bản báo cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Thành phố H thông báo tình hình sắp ếp lao động do tình hình dịch b nh Covid-19 đang diễn biến phức tạp trên toàn cầu, gây ảnh hưởng đến hoạt động sản uất, kinh doanh biết; thông báo cho M biết tình hình thực tế của Công ty do ảnh hưởng của dịch b nh Covid 19 và g i Thông báo số 025 về vi c chấm dứt hợp đồng lao động với bà M kể từ ngày 05/11/2020 do ảnh hưởng dịch b nh Covid 19 phải thu hẹp quy mô sản uất. Sau 30 ngày kể từ ngày thông báo cho cơ quan lao động biết, Công ty mới ban hành Quyết định 607/QĐ/TCLĐ-HCQT chấm dứt hợp đồng lao động với bà M. Căn cứ khoản 10 Điều 36, điểm c khoản 1 Điều 38, Điều 44, Điều 48, khoản 1 Điều 187 của Bộ luật Lao động năm 2012, Công ty cho bà M thôi vi c vì lý do kinh tế, thuộc trường hợp bất khả kháng do ảnh hưởng của dịch b nh Covid 19 vào thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động. Công ty đã đảm bảo quyền lợi của của bà M như trả tiền trợ cấp thôi vi c đầy, đã thực hi n và hoàn thành thủ tục ác nhận, trả lại sổ bảo hiểm ã hội cho bà M theo quy định và bà M đã liên h cơ quan Bảo hiểm Xã hội Q, Thành phố Hồ Chí Minh thực hi n thủ tục hưởng đầy đủ các trợ cấp, trợ cấp thất nghi p theo quy định. Tòa án cấp sơ th m không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn là phù hợp nên Tòa án cấp phúc th m giữ nguyên.
Tại phiên tòa sơ th m, nguyên đơn rút yêu cầu khởi ki n về vi c yêu cầu bị đơn trả trợ cấp mất vi c với số tiền 39.728.000 đồng; hoàn thành thủ tục ác nhận và trả lại sổ bảo hiểm ã hội cho bà M theo quy định. X t thấy vi c rút một phần yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn là tự nguy n, không trái pháp luật và đạo đức ã hội và được bị đơn đồng ý. Căn cứ Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ th m đã đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu khởi ki n này là phù hợp nên Tòa án cấp phúc th m giữ nguyên.
Như phân tích tại các mục trên, Tòa án cấp sơ th m không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Hoàng Thị M là phù hợp. X t thấy, Vi n kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và người bảo v quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng t không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ th m số 22/2022/LĐ-ST ngày 19/10/2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên Hội đồng t chấp nhận.
Án phí lao động sơ th m và phúc th m: Nguyên đơn được miễn án phí lao động sơ th m và án phí lao động phúc th m theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12, Điều 16 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí, l phí Tòa án. Bị đơn không phải chịu án phí lao động sơ th m và phúc th m.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng:
Điều 420 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 15, Điều 16, Điều 23, Điều 24, Điều 25, khoản 10 Điều 36, Điều 38, Điều 44, Điều 48, khoản 1 Điều 187, khoản 1 Điều 201 của Bộ luật Lao động năm 2012;
Điều 36 của Bộ luật Lao động năm 2019;
Khoản 3 Điều 13, khoản 2 Điều 38 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động;
Khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 4 và Điều 8 của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 hướng dẫn thực hi n một số điều về hợp đồng, kỷ luật lao động, trách nhi m vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động;
Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được s a đổi, bổ sung năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s dụng án phí và l phí Tòa án,
Tuyên :
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Hoàng Thị M. Giữ nguyên Bản án lao động sơ th m số 22/2022/LĐ-ST ngày 19/10/2022 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Hoàng Thị M về vi c: Hủy Quyết định số 607/QĐ/TCLĐ-HCQT ngày 20/10/2020 của Công ty cổ phần M2 và nhận bà Hoàng Thị M trở lại làm vi c theo hợp đồng lao động đã ký; trả cho bà M tổng số tiền 154.949.132 đồng (một trăm năm mươi bốn tri u chín trăm bốn mươi chín nghìn một trăm ba mươi hai đồng).
2. Đình chỉ t đối với phần yêu cầu khởi ki n của nguyên đơn bà Hoàng Thị M về vi c yêu cầu Công ty cổ phần M2 thực hi n trả đầy đủ cho bà M số tiền trợ cấp mất vi c là 39.728.000 đồng (ba mươi chín tri u bảy trăm hai mươi tám nghìn đồng); Công ty cổ phần M2 thực hi n hoàn thành thủ tục ác nhận và trả lại sổ bảo hiểm ã hội cho bà M theo quy định.
3. Án phí lao động sơ th m:
3.1. Bà Hoàng Thị M được miễn án phí lao động sơ th m.
3.2. Công ty Cổ phần M2 không phải chịu án phí lao động sơ th m.
4. Án phí lao động phúc th m:
4.1. Bà Hoàng Thị M được miễn án phí lao động phúc th m.
4.2. Công ty Cổ phần M2 không phải chịu án phí lao động phúc th m.
5. Bản án phúc th m có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh; - Vi n kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh; - Vi n kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân dân Quận 8; - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8; - Đương sự; - Lưu (T18). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thanh Trúc |