vanban.org

Bản án 173/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc M phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Quốc Mãi - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 173/2023/HS-ST
Ngày: 21-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thanh Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Túy Phượng;

2. Ông Đoàn Anh Minh

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang, Thư ký Toà án nhân dân thành phốThuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 164/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Quốc M, sinh năm 2002 tại tỉnh G; nơi cư trú: Ấp B, xã S, huyện Đ, tỉnh G; chỗ ở: khu phố P, phường C, thành phố A, tỉnh D; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: V Nam; con ông Phạm Minh K và bà Nguyễn Thị Út C; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/10/2022 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian là 15 (mười lăm) tháng theo Quyết định số 77/2022/QĐ-TA của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Bị bắt tạm giam ngày 23/02/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Phạm Thị Huỳnh N, sinh năm 1996; thường trú tại: Ấp R xã M huyện N, tỉnh Y; tạm trú: Khu phố L phường E, thành phố A, tỉnh D. Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đặng Thị C, sinh năm 1974; trú tại: khu phố 4, phường K, thành phố Ư, tỉnh D. Vắng mặt.

2. Bùi Quốc V, sinh năm 2000; trú tại: Tổ 8, khóm Ă, phường Â, thành phố X, tỉnh G. Vắng mặt.

Người làm chứng: Ông Lâm Hải Â, ông Trương Đức I, ông Nguyễn Quốc N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Quốc V không có việc làm ổn định, không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định đi cướp giật tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, V rủ Phạm Quốc M (chưa xác định được nhân thân, địa chỉ) cùng tham gia thì M đồng ý. Khoảng 22 giờ 05 phút ngày 27/4/2022, V điều khiển xe môtô Exciter màu xanh biển số 61B1 – 256.89 chở M lưu thông trên đường 22/12 hướng từ ngã tư Đất Thánh đi về hướng An Phú tìm tài sản sơ hở để chiếm đoạt. Khi đến khu vực chợ 185, M nhìn thấy đang lưu thông theo hướng ngược lại, tay trái bà N đang cầm một điện thoại di động hiệu OPPO A31 gắn ốp lưng màu xanh ngọc nên kêu V quay lại để chiếm đoạt chiếc điện thoại của bà N thì V đồng ý. V liền điều khiển xe mô tô quay lại chạy theo sau xe của ông  và bà N. Khi đến trước số nhà 1/94 khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình ông Lâm Hải  điều khiển xe môtô AirBlade màu trắng biển số 69L1 – 258.73 chở bà Phạm Thị Huỳnh N, V điều khiển xe áp sát bên trái xe của ông  còn M dùng tay phải giật lấy được chiếc điện thoại của bà N rồi kêu V tăng ga bỏ chạy được một đoạn thì xảy ra va chạm giao thông với ông Nguyễn Quốc N đang điều khiển xe mô tô chở ông Trương Đức I nên bị té ngã xuống đường. Khi đứng dậy thấy xe bị đứt xích nên V và M bỏ chạy bộ vào đường hẻm gần đó. Khoảng 02 phút sau, ông  điều khiển xe môtô chở bà N chạy đến nhìn thấy xe môtô của V nên tri hô “cướp, cướp, …”, cùng thời điểm Công an phường Thuận Giao tuần tra ngang qua nên đã bắt giữ được V cùng tang vật, còn M trốn thoát.

Ngày 10/02/2023 Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt Bùi Quốc V 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án 27/2023/HS-ST.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31 gắn ốp lưng màu xanh ngọc; 01 (một) xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh và 01 (một) biển số 61B1 – 256.89 bị gãy rời.

Theo kết luận định giá kết luận định giá tài sản ngày 18/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thuận An xác định: Điện thoại di động OPPO A31 có giá là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Bản Cáo trạng số 178/CT-VKS -TA ngày 30/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phốThuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Phạm Quốc M về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Phạm Quốc M từ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Đối với Bùi Quốc V, vào ngày 10/02/2023 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử tuyên phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo Bản án 27/2023/HS-ST ngày 10/02/2023.

Đối với ông Nguyễn Quốc N và ông Trương Đức I xảy ra va chạm giao thông với xe mô tô do Bùi Quốc V điều khiển chở Phạm Quốc M. Tuy nhiên do thương tích nhẹ nên ông Nghị và ông Tâm không yêu cầu bồi thường.

Về xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A31 và xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh gắn biển số 61B1 – 256.89 đã được xử lý tại Bản án 27/2023/HS-ST ngày 10/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.

+ Đối với điện thoại di động Iphone X màu gold (bị vỡ mặt kính phía sau và trước) quá trình điều tra xác định là tài sản của Phạm Quốc M, M không sử dụng điện thoại di động này vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho Phạm Quốc M là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án 27/2023/HS-ST ngày 10/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.

Bị cáo M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Quốc M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại và của người làm chứng, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 05 phút ngày 27/4/2022, tại trước số nhà 1/94 khu phố Hòa Lân 2, phường Thuận Giao, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, Bùi Quốc V điều khiển xe môtô Exciter màu xanh biển số 61B1 – 256.89 chở Phạm Quốc M ngồi phía sau chạy áp sát phía bên phải cùng chiều với xe môtô AirBlade màu trắng biển số 69L1 – 258.73 do ông Lâm Hải  điều khiển chở bà Phạm Thị Huỳnh N và dùng tay phải giật chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A31 của bà Phạm Thị Huỳnh N đang cầm trên tay trái rồi nhanh chóng tăng ga tẩu thoát thì xe của Bùi Quốc V bị vướng vào xe của ông Nguyễn Quốc N làm cả hai ngã xuống đường.

Hành vi của bị cáo sử dụng xe môtô áp sát và nhanh chóng giật lấy tài sản của bị hại rồi tẩu thoát đã đủ yếu tố cấu thành tội Cướp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 khoản 171 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm và nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại; gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo sử dụng thủ đoạn nguy hiểm, điều khiển xe môtô lưu thông với tốc độ cao, áp sát và nhanh chóng giật lấy tài sản rồi tẩu thoát, hành vi đó có thể làm nạn nhân bị bất ngờ và xảy ra tai nạn giao thông, gây nguy hiểm đến sức khoẻ, tính mạng của bị hại. Bị cáo nhận thức rõ việc chiếm đọat trái phép tài sản người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, tư lợi nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm, bất chấp hậu quả xảy ra. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Phạm Quốc M là người trực tiếp hành vi giật lấy tài sản của bị hại; còn Bùi Quốc V là người trực tiếp điều khiển xe để cho M thực hiện hành vi phạm tội. Ngày 10/02/2023 Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã xét xử Bùi Quốc V và tuyên phạt 03 năm 03 tháng tù về tội Cướp giật tài sản theo Bản án 27/2023/HS-ST.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Quốc M không có. Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không ra đầu thú mà đã bỏ trốn gây khó khăn cho quá trình điểu tra, đồng thời có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Đối với hành vi của Bùi Quốc V tham gia cùng bị cáo và trách nhiệm dân sự đã xử lý theo Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 10/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A31 đã xử lý theo Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 10/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- 01 chiếc xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh gắn biển số 61B1 – 256.89 đã được xử lý tại Bản án 27/2023/HS-ST ngày 10/02/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.

- 01 điện thoại di động Iphone X màu gold (bị vỡ mặt kính phía sau và trước), là tài sản của bị cáo M. Bị cáo không sử dụng điện thoại di động này vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An đã trả lại cho bị cáo là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Quốc M phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Quốc M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/02/2023.

2. Về án phí:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ