- Tranh chấp gì? án hình sự — "hinh su - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. 2.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 173 /2022/HS-ST Ngày: 26/9/2022 Nh©n danh |
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Duy Kiên
2. Ông Nguyễn Văn Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hƣơng – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 168/2022/TLST-HS ngày 13/9/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Thị V; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; năm sinh: 1991; Nơi sinh: Thôn Đan Tảo, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xuân Sơn, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Đỗ Trọng Lý, sinh năm 1959; Họ và tên mẹ: Lê Thị Phúc, sinh năm 1964; Anh, chị, em ruột: Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Chồng: Phạm Viết Giang, sinh năm 1989; Con: Phạm Phương Anh, sinh ngày 04/8/2022; Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt).
* Bị hại: Công ty tài chính TNHH HD SAISON, địa chỉ: Lầu 8, 9, 10 số 24C Phan Đăng Lưu, phường 6, quận Bình Thạch, TP Hồ Chí Minh; Ủy quyền cho ông Phạm Ngọc Quỳnh (nhân viên điều tra nội bộ) - đại diện công ty (Có mặt).
Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1974, trú tại: thôn Tân Phúc, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội (Vắng mặt).
2. Chị Khổng Thị T, sinh năm 1988, trú tại: thôn Đo, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (Vắng mặt). 3. Chị Trần Thị T, sinh năm 1985, trú tại: thôn Thống Nhất, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (Vắng mặt). 4. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1987, trú tại: thôn Phú Hạ, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (Vắng mặt). 5. Anh Trần Văn H, sinh năm 1990, trú tại: thôn Phù Mã, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 25/5/2020, Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn nhận được đơn trình báo của Công ty tài chính TNHH HD SAISON tố cáo Đỗ Thị V, sinh năm 1991, trú tại thôn Xuân Sơn, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội (là nhân viên của công ty) trong khoảng thời gian từ tháng 12/2018 đến tháng 01/2019 đã tạo lập 04 hợp đồng tín dụng giả vay tiền trả góp mua sản phẩm tại cửa hàng điện máy Minh T ở thôn Tân Phúc, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, do chị Nguyễn Thị T (sinh năm 1974, trú tại thôn Tân Phúc, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, TP Hà Nội) làm chủ để chiếm đoạt số tiền 30.237.916 đồng (bao gồm tiền gốc, lãi và phí phạt). Ngày 15/3/2022, Công ty TNHH HD SAISON đã ủy quyền cho ông Phạm Ngọc Q (nhân viên điều tra nội bộ của công ty) đại diện công ty giải quyết vụ việc. Những hợp đồng tín dụng giả gồm:
- Hợp đồng vay tín dụng ED012404136 lập ngày 27/12/2018 của chị Khổng Thị T (sinh năm 1988, trú tại thôn Đo, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội), vay số tiền 10.000.000 đồng để mua 01 máy giặt LG. Quá trình thực hiện hợp đồng, V đã trả lại công ty số tiền 4.716.164 đồng, còn nợ số tiền gốc 5.283.836 đồng.
- Hợp đồng vay tín dụng ED012554297 lập ngày 10/01/2019 của chị Trần Thị T (sinh năm 1985, trú tại thôn Thống Nhất, xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) vay số tiền 10.000.000 đồng để mua 01 tủ lạnh Panasonic. Quá trình thực hiện hợp đồng, V đã trả lại công ty số tiền 4.910.564đ, còn nợ số tiền gốc 5.089.436đ.
- Hợp đồng vay tín dụng ED012332145 lập ngày 20/12/2018 của anh Nguyễn Văn S (sinh năm 1987, trú tại thôn Phú Hạ, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) vay số tiền 10.000.000 đồng để mua tủ lạnh Toshiba. Quá trình thực hiện hợp đồng, V đã trả lại công ty số tiền 4.867.437 đồng, còn nợ số tiền gốc 5.132.563đ.
- Hợp đồng vay tín dụng ED012482200 lập ngày 03/01/2019 của anh Trần Văn H (sinh năm 1990, trú tại thôn Phù Mã, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) vay số tiền 10.000.000đ để mua 01 tủ lạnh Toshiba. Quá trình thực hiện hợp đồng, V đã trả lại công ty số tiền 4.850.630đ, còn nợ số tiền gốc 5.149.370đ. Quá trình điều tra, xác định: Trong quá trình làm việc tại Công ty tài chính TNHH HD SAISON từ tháng 12/2018 đến tháng 1/2019, V thấy sơ hở trong quá trình thẩm định, phê duyệt hồ sơ vay trả góp nên Viên lấy 04 bộ hồ sơ vay cũ của 04 khách hàng gồm anh Trần Văn H, chị Trần Thị T, chị Khổng Thị T, anh Nguyễn Văn S, V tự ký chữ ký để hoàn thiện 04 hồ sơ mua hàng trả góp của cửa hàng Điện máy Minh Thi ở thôn Tân Phúc, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, do chị Nguyễn Thị T làm chủ. Mỗi bộ hồ sơ V vay số tiền 10.000.000đ, tổng số tiền V chiếm đoạt của công ty là 40.000.000đ. Sau khi hoàn thiện hồ sơ vay trả góp và được công ty duyệt, giải ngân số tiền 40.000.000đ vào tài khoản của cửa hàng điện máy Minh T. Sau khi biết hợp đồng đã được giải ngân, Viên gọi điện cho chị Nguyễn Thị T, nói dối Công ty trả tiền cho V và nhờ gửi tiền vào tài khoản của cửa hàng Minh T. Vì vậy, chị T đã đưa số tiền 40.000.000đ cho V. Tính đến thời điểm tháng 4/2019, V đã nộp tiền theo kỳ hạn của 04 hợp đồng với tổng số tiền 19.344.795đ (tiền gốc), còn lại số tiền 20.655.205đ (tiền gốc) V đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết, không có khả năng chi trả nên không nộp tiền theo kỳ hạn. Ngày 22/5/2020, Công ty tài chính HD SAISON phát hiện khách hàng không đóng tiền trả góp hàng tháng nên đã gửi đơn đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Sóc Sơn.
Tại Bản kết luận giám định số 1549 ngày 23/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an TP Hà Nội, kết luận:
1. Chữ ký đứng tên Đỗ Thị V trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A8, A22 và chữ ký, chữ viết dòng họ tên Đỗ Thị V dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A2 đến A5, từ A9 đến A12, từ A16 đến A19, từ A23 đến A27 với chữ ký, chữ viết đứng tên Đỗ Thị V trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là chữ do cùng một người ký và viết ra.
2. Chữ ký đứng tên Nguyễn Thị T trên mẫu cần giám định ký hiệu A5; chữ kỷ, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thị T dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định ký hiệu A19, A27 với chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thị T dưới chữ ký trên mẫu so sánh ký hiệu M3 là chữ do cùng một người ký và viết ra.
* Chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thị T dưới chữ ký trên mẫu cần giám định ký hiệu A5 với chữ viết dòng họ tên Nguyễn Thị T dưới chữ ký trên mẫu so sánh ký hiệu M3 không phải là chữ do cùng một người viết ra.
3. Chữ ký dạng chữ viết "Hùng", chữ viết dòng họ tên Trần Văn H dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định ký hiệu A2, từ A5 đến A7 với chữ viết dòng họ tên Trần Văn H dưới chữ ký trên các mẫu so sánh ký hiệu M4, M5 không phải là chữ do cùng một người viết ra.
4. Chữ kỷ, chữ viết dòng họ tên Khổng Thị T dưới chữ ký trên các mẫu cẩn giám định ký hiệu A9, từ A12 đến A14 với chữ ký, chữ viết dòng họ tên Khổng Thị T dưới chữ ký trên các mẫu so sánh ký hiệu M6, M7 không phải là chữ do cùng một người ký và viết ra.
5. Chữ ký dạng chữ viết "Thúy", chữ viết dòng họ tên Trần Thị T dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định ký hiệu A16, từ A19 đến A21 với chữ viết dòng họ tên Trần Thị T dưới chữ ký trên mẫu so sánh ký hiệu M8 không phải là chữ do cùng một người viết ra
6. Chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Văn S dưới chữ ký trên các mẫu cần giám định ký hiệu A23, tử A27 đến A29 với chữ ký, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Văn S dưới chữ ký trên mẫu so sánh ký hiệu M9 không phải là chữ do cùng một người viết ra. Về dân sự: Bị cáo Đỗ Thị V đã bồi thường, khắc phục trả lại số tiền 20.655.205 đồng cùng các chi phí lãi suất, phí bảo hiểm, phí chuyển tiền, phí nộp muộn cho Công ty tài chính HD SAISON. Đối với chị Nguyễn Thị T được V nhờ chuyển số tiền 40.000.000đồng do Công ty tài chính HD SAISON chuyển vào tài khoản của chị T, chị T không được V bàn bạc, không biết việc V làm giả hợp đồng để chiếm đoạt tiền của Công ty tài chính HD SAISON, bản thân chị T không được hưởng lợi gì. Vì vậy, không có căn cứ xác định Nguyễn Thị T đồng phạm với Đỗ Thị V nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với anh Trần Văn H, chị Trần Thị T, chị Khổng Thị T, anh Nguyễn Văn S: A, chị không bị thiệt hại gì nên không có yêu cầu, đề nghị V bồi thường. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Đỗ Thị V đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị can V phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại bản cáo trạng số 153/CT-VKS ngày 31/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố các bị cáo về tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản ", quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, bản thân mới sinh con. Đại diện bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Xử phạt: Bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Vào các ngày 20, 27/12/2018 và 03, 10/01/2019, tại thôn Tân Phúc, xã Hồng Kỳ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, Đỗ Thị V đã làm giả 04 bộ hồ sơ mua hàng trả góp để chiếm đoạt 10.000.000đồng/01 hồ sơ của Công ty tài chính TNHH HD SAISON. Tổng số tiền V chiếm đoạt của Công ty tài chính TNHH HD SAISON là 40.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, nội dung điều luật quy định: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Đỗ Thị V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi của mình là tội phạm nhưng do cần có tiền chi tiêu nên đã có hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại.
. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội nhiều lần (04 lần) nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; tại phiên tòa bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là những căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự như đã nêu trên; căn cứ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ nhân thân người phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cũng có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng”. Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường, khắc phục trả lại số tiền 20.655.205 đồng cùng các chi phí lãi suất, phí bảo hiểm, phí chuyển tiền, phí nộp muộn cho Công ty tài chính HD SAISON. Tại phiên tòa Công ty tài chính HD SAISON cũng không có yêu cầu đề nghị gì thêm nên tòa không xem xét.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phi dân sự theo quy định của pháp luật. [7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Vì những lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. 2. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị V 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đỗ Thị V về Uỷ ban nhân dân xã Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. 3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền kháng cáo về phần có liên quan./.
| Nơi nhận: - Bị cáo, bị hại; - TAND TP. Hà Nội; - VKSND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Sóc Sơn; - Chị cục THADS huyện Sóc Sơn; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN NGỌC HÒA |