vanban.org

Bản án 173/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Anh Trần Văn P và chị Nguyễn Thị N được ly hôn.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Trần Văn P phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 24 tháng 6 năm 2022 anh Phươc có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015068 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí. Đương sự…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "trần văn p-nguyễn thị n"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Anh Trần Văn P và chị Nguyễn Thị N được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 173/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 21-9-2022

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Trần Phi Hùng

2.Bà Hồ Lệ Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 254/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2022/QĐXX-ST ngày 03 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn P, sinh năm 1975 (có yêu cầu xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp CT, xã ĐT, huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp CB, xã HTK, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện ngày 12/6/2022 anh Trần Văn P trình bày:

1

Anh P và chị N tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HTK, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 03/01/2018. Thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, sống chung không hợp, không có tiếng nói chung, thường xuyên cự cãi nhau nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Vì vậy, anh P yêu cầu ly hôn với chị N.

Thời gian chung sống, anh P và chị N không có con chung, tài sản chung và nợ chung không có nên anh P không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Anh Trần Văn P khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị N. Do anh chị chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Chị N có địa chỉ tại ấp CB, xã HTK, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của anh P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị N nhưng chị N không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của anh P và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị N theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh P có yêu cầu xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh P theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về hôn nhân: Anh P và chị N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HTK, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 03/01/2018. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, anh P vẫn bảo lưu yêu cầu ly hôn với chị N. Mặt khác, Tòa án có tổ chức hòa giải để anh chị có điều kiện gặp nhau thỏa thuận thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không

2 có kết quả do chị N vắng mặt tại lần hòa giải và xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho anh Trần Văn P và chị Nguyễn Thị N được ly hôn.

[4] Về con chung: Không có nên không xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Anh P xác định thời gian chung sống, anh chị không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét là có cơ sở.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Trần Văn P phải chịu án phí – Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Anh Trần Văn P và chị Nguyễn Thị N được ly hôn.

2.Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Trần Văn P phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 24 tháng 6 năm 2022 anh Phươc có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015068 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

3. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Nêm yết công khai bản án.

3

Cỡ chữ