vanban.org

Bản án 173/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị Diễm Đ được ly hôn với anh Nguyễn Nhật T.

Về con chung: Không có. Về tài sản chung, nợ chung: không có; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Thị Diễm Đ - Nguyễn Nhật T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị Diễm Đ được ly hôn với anh Nguyễn Nhật T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 09/5/2022
V/v tranh chấp: “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG Đ, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc An.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trương Thị Út Mỹ.

3. Bà Nguyễn Thị Kim Chi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hữu Vĩnh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đ, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 09 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đ, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 246/2021/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2021 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Huỳnh Thị Diễm Đ, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp PP, xã BP, huyện CL, TV.(có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Nguyễn Nhật T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp GĐ, xã TH, huyện Gò Công Đ, Tiền Giang.(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 07/6/2021, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Huỳnh Thị Diễm Đ trình bày:

Chị và anh T kết hôn và sống chung từ năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện Gò Công Đ. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Vợ chồng không có hàn gắn trao đổi tình cảm, hiện tại không còn sống chung, không còn liên lạc với nhau. Nay không còn tình cảm với anh T nên chị yêu cầu ly hôn với anh T.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có.

* Bị đơn Nguyễn Nhật T đã được tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Huỳnh Thị Diễm Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Nguyên đơn Huỳnh Thị Diễm Đ có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Nguyễn Nhật T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Diễm Đ và anh Nguyễn Nhật T kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã TH, huyện Gò Công Đ, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 73, quyển số 01/2014 ngày 08/10/2014, nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Chị Huỳnh Thị Diễm Đ cho rằng quá trình sống chung, vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan diểm sống, thường xuyên cải vã, sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Từ năm 2018 chị Đ về nhà mẹ ở TV, hơn 03 năm nay anh Nguyễn Nhật T không qua nhà chị Đ để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nay không còn tình cảm với anh T nên chị xin ly hôn với anh T.

Bị đơn Nguyễn Nhật T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không nộp bản tự khai, vắng mặt tại các phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại các phiên tòa.

Xét, chị Huỳnh Thị Diễm Đ và anh Nguyễn Nhật T thường hay xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung; anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; giữa chị Huỳnh Thị Diễm Đ và anh Nguyễn Nhật T không còn sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chị Huỳnh Thị Diễm Đ yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Nhật T là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Huỳnh Thị Diễm Đ trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh T không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Huỳnh Thị Diễm Đ phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các điều 51, 53, 56, Luật hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị Diễm Đ được ly hôn với anh Nguyễn Nhật T.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có;

- Về án phí: Chị Huỳnh Thị Diễm Đ phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007326 ngày 02/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đ, tỉnh Tiền Giang, nên xem như đã nộp xong án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án sơ thẩm.

Cỡ chữ