vanban.org

Bản án 173/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 23/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 30 tháng (ba mươi tháng) tù. Thời hạn t tính t ngày bị b t 28/8/2020. Tiếp tục tạm giam để đảm bảo thi hành án . [2] Xử lý v t chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số:173/2020/HSST
Ngày: 23/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Bà Mai Lương Anh

+ Ông Mai Phú

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Minh Hòa – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Đăng Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 198/2020/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 181/2020/QĐXXST-HS ngày 5 tháng 11 năm 2020 đối với:

- Bị cáo: Nguyễn Văn T, sinh năm 1985, tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: thôn U, xã T, huyện K, tỉnh Hải Phòng. Chỗ ở: Đường N, phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Không; Học vấn 9/12; Giới tính : Nam; dân tộc: kinh; Quốc Tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1961; Con bà Đồng Thị L ( đã chết); Gia đình có 3 anh em, lớn nhất là bị cáo sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1992; Vợ Vũ Thị T, sinh năm 1984 ( đã ly hôn); Có 2 con: Nguyễn Vũ Mạnh D, sinh năm 2013, Nguyễn Vũ Hải N, sinh năm 2915.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 20/8/2008 bị Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng t cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội L a đảo chiếm đoạt tài sản. Bị can đã chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị b t t ngày 28/8/2020, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm gi Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

1/ Ông Nguyễn Thế L, sinh năm: 1961; địa chỉ: Đường M, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.

2/ Ông Đinh Văn B, sinh năm 1964; địa chỉ: Đường B, phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. V ng mặt tại phiên Tòa.

-Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Liêng Hót Hoàng T2, sinh năm 1994; địa chỉ: Xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau: Nguyễn Văn T là đối tượng không có nghề nghiệp, vào tháng 8 năm 2020 T nhặt được 04 bản v xây dựng (bản photo), do c n tiền để tiêu xài nên T đã nảy sinh ý định sử dụng các bản v này để l a đảo chiếm đoạt tài sản c a người khác. T ngày 25/8/2020 đến ngày 28/8/2020 T đã 2 l n thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể như sau:

L n 1: Khoảng 12 giờ ngày 25/8/2020, T mang theo 03 bản v xây dựng đi bộ tới đường M, phường H, thành phố Đ với mục đích tìm người chạy xe thồ để l a chiếm đoạt tài sản. Tại đây T gặp ông Nguyễn Thế L đang đứng chờ khách nên thuê ông L chở đến Trung tâm hành chính thành phố Đ. Khi tới nơi T đưa cho ông L xem 03 B v xây dựng rồi nói với ông L các B v này trị giá 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng) để lấy lòng tin c a ông L rồi Tuấn đưa các bản v xây dựng trên nhờ ông L gi d m, sau đó mượn xe máy hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, bạc, biển số 52 7-2926 c a ông L để đi ký giấy tờ thì được ông L tin tưởng đồng ý cho mượn xe. Sau khi mượn được xe mô tô biển số 52 7-2926, Tuấn điều khiển đến tiệm sửa xe c a Liêng Hót Hoàng T, sinh năm: 1994, HKTT: Xã L, huyện LD, Lâm Đồng gửi bán d m với giá 4.500.000 đồng rồi đi về lại phòng trọ.

Tang v t thu gi : 01 xe máy hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, bạc, biển số: 52 7-2926; 03 bản v xây dựng (bản photo).

Người bị hại: ông Nguyễn Thế L, sinh năm: 1961, HKTT: Đường M, phường H, thành phố Đ, bị chiếm đoạt 01 xe máy hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, bạc, BKS: 52 7-2926. Ngày 04/9/2020 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đà Lạt xác định chiếc xe trên trị giá 6.000.000 đồng. Ngày 15/9/2020 Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông L, ông L đã nh n lại tài sản và không có yêu c u gì thêm.

L n 2: Cũng với th đoạn như trên, khoảng 10 giờ 00 ngày 28/8/2020, Tuấn mang theo 01 bản v xây dựng đi tới đường P, phường G, thành phố Đ gặp ông Đinh Văn B, đang dựng xe mô tô hiệu Honda Future, màu xám đen, biển số 49B1 – 274.69 ở lề đường để đợi khách. T đi tới thuê ông B chở đến trạm xe bus PT trên đường M, phường G, thành phố Đ. Khi ông B chở T đến trạm xe bus thì T lấy điện thoại giả vờ gọi điện rồi nói ông B tiếp tục chở đến đường T, phường G, thành phố Đ. Khi đến nơi, T giả vờ gọi điện thoại rồi đưa bản v xây dựng ra cho ông B xem và nhờ ông B c m hộ để hỏi mượn xe c a ông B đi photo hồ sơ, ông B tin tưởng nên giao xe mô tô biển số 49B1 – 274.69 cho T mượn. Sau đó, Tuấn điều khiển xe mô tô đến tiệm sửa xe c a anh Liêng Hót Hoàng T để gửi bán xe, trên đường đi T mở cốp xe c a ông B để kiểm tra bên trong có tài sản gì khác để chiếm đoạt thì phát hiện có 01 xấp tiền (mệnh giá 500.000 đồng) trị giá 22.000.000 đồng và 01 xấp tiền cũ mệnh giá 2000 đồng, 5000 đồng, l c này T nghĩ xấp tiền l là do ông B nhặt được nên đã vứt ra đường, còn số tiền 22.000.000 đồng T cất giấu vào trong người rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi tới nhà T gửi bán rồi đi về lại phòng trọ. Đối với số tiền Tchiếm đoạt c a ông B thì T đã tiêu xài cá nhân hết 4.500.000 đồng, còn 17.500.000 đồng hiện nay đã bị Công an tạm gi .

Tang v t thu gi : 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu xám đen không biển số; Số tiền 17.500.000 đồng; 01 bản v xây dựng phô tô; 01 điện thoại di động Samsung màu đen, số IMEI 35766808083125/01; 01 chứng minh nân dân mang tên Nguyễn Văn T.

Người bị hại: ông Đinh Văn B, sinh năm: 1964, HKTT: đường B, phường C, thành phố Đ, bị chiếm đoạt 1 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu xám đen, biển số 49B1-274.69, số tiền 22.000.000 đồng và 01 xấp tiền mệnh giá 2000 đồng, 5000 đồng (không r số lượng). Ngày 04/9/2020 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định chiếc xe mô tô 49B1-274.69 trị giá 10.800.000 đồng. Ngày 03/9/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô và số tiền 17.500.000 đồng thu gi c a T cho ông B, ông B không có yêu c u gì thêm.

Tại B cáo trạng số 187/CT-VKSĐL ngày 29/10/2020 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ lu t hình sự.

Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Nguyễn Văn T không khiếu nại B cáo trạng và khai nh n đã thực hiện hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát gi nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị về hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản”; Áp dụng Khoản 1 Điều 174 Bộ lu t hình sự; Các Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ lu t hình sự là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức hình phạt t 24 tháng tù đến 30 tháng tù .

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi và trả cho người bị hại, người bị hại không có yêu c u gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra để xem xét;

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước; 01 điện thoại di động Samsung màu đen, số IMEI 35766808083125/01; 01 chứng minh nân dân mang tên Nguyễn Văn T.

Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau c ng c a bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo ăn năn hối h n và xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh lu n tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đ ng thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ lu t tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định c a các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

Về hành vi phạm tội c a bị cáo: Bị cáo T là người trưởng thành, có đ y đ nh n thức, bị cáo biết rất r việc d ng th đoạn gian dối là đưa ra các bản v xây dựng nhặt được cho ông Nguyễn Thế L và ông Đinh Văn B để tạo niềm tin nhằm chiếm đoạt tài sản là 2 xe mô tô là hành vi trái pháp lu t, bị pháp lu t nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Căn cứ lời khai nh n tội c a bị cáo tại phiên tòa ph hợp với lời khai c a bị cáo trong quá trình điều tra, ph hợp với lời khai c a người bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu th p trong quá trình điều tra vụ án. Có đ căn cứ kết lu n hành vi c a bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản” được qui định tại điều 174 Bộ lu t hình sự.

Về tình tiết định khung hình phạt: Tài sản bị cáo chiếm đoạt c a ông Nguyễn Thế L là 01 xe máy hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, bạc, BKS: 52 7-2926 theo kết quả thẩm định giá là 6.000.000 đồng và c a ông Đinh Văn B, một xe

mô

tô

nhãn

hiệu

Honda

Future

màu xám đen, biển số 49B1-274.69 theo kết quả thẩm định giá là 10.800.000 đồng và số tiền 22.000.000 đồng. Tổng cộng trị giá tài sản bị cáo T chiếm đoạt là 38.800.000đ.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ truy tố với khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ lu t Hình sự là có căn cứ, đ ng pháp lu t.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo phạm tội 2 l n nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t hình sự.

Xét tính chất c a hành vi phạm tội mà bị cáo là liều lĩnh xem thường pháp lu t. Vào ngày 20/8/2008 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng t nhưng cho hưởng án treo, tuy đã chấp hành xong bản án nhưng vẫn tiếp tục l a đảo người khác để kiếm tiền tiêu xài nên nhân thân c a bị cáo là xấu. Vì v y tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện rèn luyện, tu dưỡng nhằm trở thành con người có ích cho B thân và xã hội như đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng như có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ng a chung.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Thế L và ông Đinh Văn B đã nh n lại tài sản, không có yêu c u gì thêm về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Về xử lý v t chứng: Đối với 01 điện thoại di động Samsung màu đen, số IMEI 35766808083125/01bị cáo d ng là phương tiện để liên lạc phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước. Đối với 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn T là giấy tờ t y thân c a bị cáo nên tuyên trả cho bị cáo;

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp lu t.

Đối với Liêng Hót T là người nh n bán d m 2 xe mô tô nhưng khi nh n bán dùm T không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 174; Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ lu t Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 30 tháng (ba mươi tháng) tù. Thời hạn t tính t ngày bị b t 28/8/2020. Tiếp tục tạm giam để đảm bảo thi hành án .

[2] Xử lý v t chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ lu t tố tụng hình sự

Tuyên: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động Samsung màu đen, số IMEI 35766808083125/01. Hoàn trả cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/10/2020 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ).

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 c a y ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc áp dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo để yêu c u Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử ph c thẩm./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lâm Đồng;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND thành phố Đ;

- Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;

- Công an thành phố Đ;

Đã ký

- Chi cục Thi hành án thành phố Đ;

- Bị cáo;

- Nh ng người tham gia tố tụng;

Nguyễn Thị Diệu Nga

- Bộ ph n theo d i thi hành án phạt t ;

- Lưu hồ sơ vụ án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm

Thẩm phán Mai Lương Anh – Mai Phú

Nguyễn Thị Diệu Nga

Cỡ chữ