vanban.org

Bản án 173/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lại Xu n B phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lại Xu n B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2020. Về trách nhiệm d n sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Xuân B - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lại Xu n B phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2020/HS-ST
Ngày: 12-8-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thượng Văn Kịnh.

Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở T a án nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 176/2020/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2020; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Lại Xuân B, sinh năm 1989, tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn X, phường Đ, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Xu n K (đã chết) và bà Bùi Thị P (đã chết); có vợ là Vũ Thị L và 01 người con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2020 cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Võ Phước L, sinh năm 1995; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.

Người chứng kiến: Ông Phan Văn H, ông Phan Văn N, tất cả vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 13/01/2020, Lại Xuân B đi nhờ xe ô tô biển số 51C-824XX của ông Võ Phước L từ Khu Công nghiệp Amata, thành phố Biên H a, tỉnh Đồng Nai đến huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi lên xe, B nhìn thấy điện thoại di động của ông L để trong hộc ở giữa hai ghế ngồi nên B nảy sinh ý định chiếm đoạt. Khoảng 04 giờ cùng ngày, khi đến đường Điện Biên Phủ, thuộc Khu Công nghiệp Đại Đăng, phường Phú T n, thành phố Thủ Dầu Một, B giả vờ hỏi mượn điện thoại di động của ông L để gọi cho bạn. Ông L mở điện thoại và đưa cho B. Sau khi cầm điện thoại, B giả vờ kêu ông L tấp xe vào lề đường để chờ bạn lấy đồ. Ông L chạy xe vào sát lề đường và dừng lại. B liền mở cửa xe và nhảy xuống đường thì ông L chụp tay của B nhưng B giật tay ra rồi nhảy xuống xe bỏ chạy. Thấy vậy, ông L xuống xe truy hô “cướp, cướp…” đồng thời truy đuổi theo B. Cùng lúc này, lực lượng Công an phường Phú T n đang tuần tra trên đường, nghe tiếng truy hô của ông L nên truy đuổi và bắt giữ được B. Vật chứng thu giữ là 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A6, màu đen.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 07/KLTS-TTHS ngày 16/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6, màu đen trị giá 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo B đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”.

Bị hại không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

- Về các vấn đề khác của vụ án:

Ngày 17/1/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 126 giao trả lại cho bị hại Võ Phước L 01 điện thoại di động hiệu Samsung A6, màu đen.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản cáo trạng số 190/CT-VKS-HS ngày 29/6/2020 của Viện Kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lại Xuân B về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Tại phiên t a, kiểm sát viên trong phần tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lại Xuân B mức hình phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm d n sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Quá trình điều tra, bị hại không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo Lại Xuân B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 13/01/2020, trên đường Điện Biên Phủ, thuộc Khu công nghiệp Đại Đăng, phường Phú T n, thành phố Thủ Dầu Một, bị cáo B có hành vi giật 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A6, trị giá 3.500.000 đồng của bị hại L rồi tẩu thoát thì bị lực lượng công an bắt giữ. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nh n d n thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc giật tài sản của người khác rồi nhanh chóng tẩu thoát là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo không những x m phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công d n được pháp luật bảo vệ mà c n g y mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và ph ng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản thu hồi trả lại cho bị hại theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm d n sự: Bị hại Võ Phước L đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào các Điều 136, Điều 260 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

1. Tuyên bố bị cáo Lại Xu n B phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lại Xu n B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/01/2020.

2. Về trách nhiệm d n sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về án phí: Bị cáo Lại Xu n B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày T a tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ