- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Ngô Ngọc H khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Đặng Văn H"
- Tòa quyết gì? tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đ nh; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số:173/2020/HNGĐ-ST Ngày: 31-8-2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Văn Tâm;
2. Bà Phan Thị Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên – Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 792/2019/TLST-HNGĐ ngày 17
tháng 9 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 448/2020/QĐXX-ST ngày 12 tháng 8 năm
2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Ngô Ng c H (Giàu), sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: ấp
N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
2. Bị đơn: Ông Đặng Văn H, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: ấp N, xã N,
huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, ản tự khai nguyên đơn à Ngô Ng c H tr nh ày:
Bà và ông Đặng Văn H chung sống với nhau vào năm 2002, có đăng ký kết hôn
vào năm 2009. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 th xảy ra mâu thuẫn,
nguyên nhân do chồng uống rượu thường xuyên, không trách nhiệm với gia
đ nh, từ đó vợ chồng sống không hạnh phúc và không còn sống chung từ năm
2016 cho đến nay. Nhận thấy hiện nay không còn t nh cảm với nhau nên yêu cầu
Tòa án cho được ly hôn với ông Đặng Văn H.
-Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên là Đặng Văn K, sinh ngày
26/4/2003 và Đặng Văn T, sinh ngày 20/11/2012, khi ly hôn à H yêu cầu tiếp tục nuôi 02 con chung yêu cầu chồng cấp dư ng nuôi con theo quy định của pháp luật; tại phiên tòa, à H yêu cầu ông H cấp dư ng nuôi con đối với cháu T mỗi tháng 2.000.000đồng.
-Về tài sản chung: Tài sản vợ chồng gồm có: 01 căn nhà cấp 4 (xây tường,
vách tường, lợp tol, nên lót gạch ông ngang 7 m, dài 14 m) t a lạc trên phần đất diện t ch 98 m2 của cha m tên Lê Thị T, sinh năm 1956 và Nguyễn Tấn P, sinh năm 1955 (chết năm 2019; những người thừa kế gồm T, B, T, N, H, H, S). Địa chỉ: ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang. Nhà đất ước lượng 200.000.000đồng; 01 tủ thờ ng cây thao lao ngang 1,4m, cao 2m trị giá 10.000.000đồng; 01 ộ lư đồng loại 1 trị giá 500.000đồng; 01 tủ lạnh hiệu sanyo trị giá 3.000.000đồng; 01 ộ ghế salon ng cây thao lao trị giá 7.000.000đồng; Toàn ộ tài sản trị giá 220.500.000đồng hiện nay chồng đang quản lý. Khi ly hôn à H yêu cầu chia tài sản theo quy định của pháp luật; về nợ chung: Vợ chồng có nợ một số người hiện chưa trả gồm: Nợ à Nguyễn Thị L, sinh năm 1983. Cư trú: Số nhà 841, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang số tiền hụi 30.000.000đồng; Nợ à Phan Thị B ch L, sinh năm 1989. Cư trú: Số nhà 933, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang số tiền hụi 25.000.000đồng; Nợ à Nguyễn Thị L, sinh năm 1977. Cư trú: Số nhà 639, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang số tiền hụi 30.000.000đồng; Nợ Trần Minh H, sinh năm 1988. Cư trú: Số nhà 202, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang số tiền hụi 20.000.000đồng; Nợ à Nguyễn Thị M, sinh năm 1967. Cư trú: Số nhà 753, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang số tiền hụi 30.000.000đồng; Bà Trần Thị L, sinh năm 1957. Cư trú: Số nhà 755, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang số tiền vay 10.000.000đồng; Nợ à Nguyễn Thị L, sinh năm 1991. Cư trú: Số nhà 765, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang số tiền vay 15.000.000đồng; Nợ ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1977. Cư trú: Số nhà 939, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang số tiền vay 10.000.000đồng; Nợ à Nguyễn Thị L, sinh năm 1984. Cư trú: Số nhà 765, ấp N, xã N, huyện C, tỉnh An Giang số tiền vay 15.000.000đồng. T ng cộng nợ tiền hụi và tiền vay 185.000.000đồng yêu cầu chồng cùng trả nợ trên. Trong quá tr nh giải quyết vụ án, à Ngô Ng c H rút lại yêu cầu khởi kiện đối với việc chia tài chung và nợ chung;
Bị đơn ông Đặng Văn H tr nh ày ý kiến: không đồng ý ly hôn theo yêu
cầu của vợ; về con chung: 02 con chung tên Đặng Văn K, sinh ngày 26/4/2003 và Đặng Văn T, sinh ngày 20/11/2012, trường hợp Tòa án cho ly hôn th yêu cầu nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dư ng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: không có. Tại phiên tòa, ông H sung ý kiến nếu vợ để ông được quản lý tài sản là nhà và để con cho ông nuôi dư ng th ông đồng ý ly hôn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát iểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng trong quá tr nh giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và
84 Luật Hôn nhân gia đ nh năm 2014, Điều 217, 244 Bộ luật Tố rụng dân sự đề
nghị: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của à Ngô Ng c H đối với ông Đặng Văn H;
à Ngô Ng c H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dư ng cháu Đặng Văn K, sinh
ngày 26/4/2003 và cháu Đặng Văn T, sinh ngày 20/11/2012, ông Đặng Văn H
có nghĩa vụ cấp dư ng nuôi con đối với cháu T 750.000đồng/tháng đến khi cháu
T trưởng thành và có khả năng lao động nuôi sống ản thân; Đ nh chỉ yêu cầu
chia tài sản chung và nợ chung của à Ngô Ng c H và yêu cầu cấp dư ng nuôi
con đối với cháu K.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
Bà Ngô Ng c H khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Đặng
Văn H. Ông H có nơi cư trú trên địa àn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Căn cứ
vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.
Bà Ngô Ng c H tự nguyện rút lại yêu cầu khởi kiện đối với chia tài
sản chung; nợ chung và yêu cầu cấp dư ng nuôi con đối với cháu K nên Tòa án
đ nh chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa à Ngô Ng c H và ông Đặng
Văn H là hợp pháp v ông à có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ
chồng ông à mâu thuẫn, theo nguyên đơn tr nh ày là do chồng uống rượu
thường xuyên, không trách nhiệm với gia đ nh, từ đó vợ chồng sống không hạnh
phúc và không còn sống chung từ năm 2016 cho đến nay. Tại phiên tòa, ông H
sung ý kiến nếu vợ để ông được quản lý tài sản là nhà và để con cho ông nuôi
dư ng th ông đồng ý ly hôn. Xét thấy, trong cuộc sống chung vợ chồng ông à
không được hạnh phúc đến nay là một khoảng thời gian dài, làm cho hôn nhân
lâm vào t nh trạng trầm tr ng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đ ch của
hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đ nh năm 2014,
Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của à H.
Về quan hệ con chung: Bà Ngô Ng c H, ông Đặng Văn H xác định vợ
chồng có 02 con chung tên là Đặng Văn K, sinh ngày 26/4/2003 và Đặng Văn T,
sinh ngày 20/11/2012, khi ly hôn à H và ông H đều yêu cầu được tiếp tục nuôi
con chung. Trong quá tr nh giải quyết vụ án, Tòa án ghi nhận ý kiến của cháu T
và cháu K, kết quả thể hiện “nếu a và m không còn sống chung với nhau nữa
th nguyện v ng muốn được chung sống với m ”. Dó đó Hội đồng xét xử chấp
nhận à H được tiếp tục nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân
và gia đ nh c ng như nguyện v ng của con. Về việc cấp dư ng nuôi con: à H
yêu cầu ông H cấp dư ng nuôi con đối với cháu T mỗi tháng 2.000.000đồng;
ông H không đồng ý. Căn cứ quy định pháp luật, ông H không trực tiếp nuôi
con, ông H có nghĩa vụ đóng góp ph t n nuôi dư ng, giáo dục con tối thiểu
không dưới ½ (một phần hai) mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm xét xử sơ thẩm đối với một người con. Căn cứ mức lương tối thiểu hiện tại là 1.490.000đồng mỗi tháng v vậy ông H có nghĩa vụ cấp dư ng là 750.000đồng/người/tháng cho đến khi cháu T trưởng thành và có khả năng lao động nuôi sống ản thân.
Về quan hệ tài sản và về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
nên không xét đến.
Về án ph : Đương sự phải chịu án ph theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Các Điều 28, 35, 39, 147, 192, 217, 227, 244 và 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đ nh; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Tuyên xử: Đ nh chỉ yêu cầu khởi kiện của à Ngô Ng c H đối với việc
yêu cầu chia tài sản chung; nợ chung và yêu cầu cấp dư ng nuôi con đối với cháu K; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của à Ngô Ng c H.
1) Về quan hệ hôn nhân: Cho à Ngô Ng c H ly hôn với ông Đặng Văn
H. Giấy chứng nhận kết hôn số 224 ngày 14/8/2009 do Ủy an nhân dân xã N, huyện C, tỉnh An Giang cấp, không còn giá trị pháp lý.
2) Về quan hệ con chung: Bà Ngô Ng c H được tiếp tục nuôi 02 con
chung tên là Đặng Văn K, sinh ngày 26/4/2003 và Đặng Văn T, sinh ngày 20/11/2012; ông H có nghĩa vụ cấp dư ng nuôi con đối với cháu Đặng Văn T, sinh ngày 20/11/2012 mỗi tháng 750.000đồng (B ng chữ: Bảy trăm năm mươi ngh n đồng) cho đến khi cháu T trưởng thành và có khả năng lao động nuôi sống ản thân.
Bà H cùng các thành viên gia đ nh (nếu có) không được cản trở ông H
trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dư ng, giáo dục con.
V lợi ch của con, theo yêu cầu của người thân th ch của con, cơ quan có
thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đ i người trực tiếp nuôi con, uộc cấp dư ng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
3) Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải
quyết nên không xét đến.
4) Về án ph : Bà Ngô Ng c H phải chịu án ph hôn nhân sơ thẩm là
300.000đồng (B ng chữ: Ba trăm ngh n đồng), được khấu trừ vào tiền tạm nộp án ph đã nộp 5.812.000đồng (B ng chữ: Năm triệu tám trăm mười hai ngh n đồng) theo iên lai thu số 0013563 ngày 16/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Bà Ngô Ng c H được nhân lại 5.512.000đồng (B ng chữ: Năm triệu năm trăm mười hai ngh n đồng); ông
Đặng Văn H phải chịu án ph cấp dư ng nuôi con là 300.000đồng (B ng chữ:
Ba trăm ngh n đồng).
5) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự
có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc
thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND H. Chợ Mới; - TAND tỉnh An Giang; - Chi cục THADS H. Chợ Mới; - UBND xã N, huyện C, tỉnh An Giang; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hùng |