- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Kim H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đinh Kim H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ H TỈNH HẢI DƢƠNG --------------- Bản án số: 173/2017/HSST Ngày 11/9/2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trƣơng Thị Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Hoan - Cán bộ nghỉ hƣu.
2. Bà Vũ Thị Khuôn - Cán bộ nghỉ hƣu
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Phương - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nhiệm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 168/2017/HSST ngày 25 tháng 8 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Kim H, sinh năm 1982;
Đăng ký hộ khẩu: Số 109 phố S, phƣờng K, quận B, thành phố Hà Nội;
Đăng ký tạm trú tại: Số 298 đƣờng L, phƣờng L, thành phố H, tỉnh Hải Dƣơng.
Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: 10/12;
Bố đẻ là ông Đinh Văn B (đã chết); Mẹ đẻ là bà Phạm Thị L, sinh năm 1950; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ tƣ;
Chồng là Lê Danh T, sinh năm 1963 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2007;
Tiền án, tiền sự: Chƣa;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2017, chuyển tạm giam từ ngày 05/6/2017 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dƣơng. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NHẬN THẤY:
Đinh Kim H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau: H là đối tƣợng nghiện chất ma túy nên sáng ngày 29/5/2017 Huệ đến phố C, thành phố H mua đƣợc 01 túi ma túy tổng hợp với số tiền 800.000đ của một ngƣời phụ nữ tên A (do H tự khai, không rõ họ, địa chỉ). Sau khi mua đƣợc túi ma túy H đem về nhà chia thành 04 túi nhỏ để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 15h ngày 30/5/2017 khi H đang ở nhà thì Bùi Việt B ở số 6 ngách 45, ngõ 78 phố Q, phƣờng B, thành phố H gọi điện thoại di động hỏi mua 500.000đ ma túy tổng hợp. H đồng ý bán và thỏa thuận giao nhận tiền, ma túy tại nhà số 298 đƣờng L, phƣờng L, thành phố H. Khoảng 15h15’ cùng ngày, do có sự thỏa thuận trƣớc với anh Nguyễn Văn N về việc góp tiền để mua ma túy về cùng sử dụng, Bùi Việt B rủ bạn là anh Vũ Đại D đi chơi với B và anh N. Sau đó B thuê xe taxi (không nhớ hãng xe, ngƣời điều khiển) chở B, N và anh D đi. Khi đến nhà số 298 đƣờng L, phƣờng L, thành phố H, anh N, anh D ngồi trên xe còn B đi vào gặp và giao cho H 500.000đ, H nhận tiền bảo B tự vào bàn uống nƣớc kê sát vỉa hè nhà H lấy 03 gói ma túy tổng hợp để trong vỏ hộp thuốc đựng trong hộp giấy để trên bàn. Khoảng 15h30’ cùng ngày khi B cùng anh N đi đến khu vực hồ Q, thuộc khu 17, phƣờng Q, thành phố H tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Hải Dƣơng kiểm tra hành chính thu giữ 03 túi nilon màu trắng bên trong các túi đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. B tự giác giao nộp 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen bên trong lắp sim số 0978870156.
Hồi 20h30’ ngày 30/5/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dƣơng khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của H số 298 L, phƣờng L, thành phố H, thu giữ tại giƣờng ngủ 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa các chất tinh thể màu trắng H khai nhận là ma túy tổng hợp cất giấu để sử dụng và bán; 01 bình để sử dụng ma túy tổng hợp, 03 coóng, 01 túi nilon hình chữ nhật bên trong đựng nhiều túi nilon nhỏ hình vuông. H tự giác giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Mobistar màu đen bên trong có lắp 2 sim (một sim có số 0941105493); 01 thẻ nhớ 2GB.
Tại bản kết luận giám định số 159/KLGĐ ngày 05/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dƣơng, kết luận: “Tinh thể màu trắng ghi thu của B và N gửi giám định có tổng trọng lượng là 0,360 gam, có Methamphetamine; Tinh thể màu trắng ghi thu khi khám xét tại nhà ở của Đinh Kim H gửi giám định có tổng trọng lượng là 0,128 gam”, có Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Vật chứng: Đối với 0,394 gam mẫu có Methamphetamine và vỏ bao gói đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 159/LKGĐ-PC 54 có đóng 03 dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu đen bên trong có lắp 2 sim (một sim có số 0941105493) và 1 thẻ nhớ 2GB; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen bên trong lắp sim số 0978870156; 01 bình để sử dụng ma túy tổng hợp, 03 coóng, 01 túi nilon hình chữ nhật bên trong có chứa nhiều túi nilon nhỏ hình vuông, đang đƣợc quản lý tại kho vật chứng của Công an thành phố H chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 176/VKS-HS ngày 25/8/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo Đinh Kim H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Đinh Kim H khai nhận hành vi mua và cất giấu trái phép 0,488 gam Methamphetamine để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Kim H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Kim H từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/5/2017; Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS: Tịch thu, tiêu hủy 0,394 gam mẫu có Methamphetamine và vỏ bao gói là mẫu vật hoàn lại sau giám định; sim điện thoại số 0941105493 và sim điện thoại số 0978320156; 01 bình để sử dụng ma túy tổng hợp; 03 coóng; 01 túi nilon hình chữ nhật bên trong có chứa nhiều túi nilon nhỏ hình vuông; Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nƣớc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mobistar màu đen; 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen; Trả lại cho bị cáo 1 thẻ nhớ 2GB, 01 sim điện thoại có số seri 8984040667002581237; Về án phí: áp dụng Điều 99 BLTTHS, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016. Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, ý kiến của bị cáo.
XÉT THẤY:
Lời khai của bị cáo Đinh Kim H tại phiên toà phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/5/2017 Đinh Kim H mua và cất giấu trái phép 0,488 gam Methamphetamine để sử dụng và bán. Khoảng 15h15’ ngày 30/5/2017, tại trƣớc cửa số nhà 298 L, phƣờng L, thành phố H, H đã bán trái phép 0,360 gam Methamphetamine cho Bùi Việt H với số tiền 500.000đ. Hồi 20h30’ cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dƣơng khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của H thu giữ 0,128 gam Methamphetamine H cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ Methamphetamine là chất bị Nhà nƣớc cấm lƣu hành nhƣng vì muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo cố ý mua ma túy về để bán lại cho ngƣời khác kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nhƣ nêu ở trên là hoàn toàn đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội đƣợc pháp luật bảo vệ. Chất ma tuý có tính chất kích thích thần kinh, có tác hại rất lớn đến sức khỏe con ngƣời cũng nhƣ toàn xã hội. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tƣơng xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo. Do vậy, HĐXX cho bị cáo hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết nào tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 0,394 gam mẫu có Methamphetamine và vỏ bao gói là mẫu vật hoàn lại sau giám định. Xét methamphetamine là chất cấm lƣu hành; Sim điện thoại số 0941105493 và sim điện thoại số 0978320156; 01 bình dùng để sử dụng ma túy đá, nắp bình đƣợc đục lỗ để cắm 01 ống hút nƣớc và 03 cóong để đựng ma túy đá; 01 túi nilon hình chữ nhật bên trong chứa nhiều túi niloon nhỏ hình vuông là những vật không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định của pháp luật;
+ Đối với chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu NOKIA 1280 màu đen và chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Mobistar màu đen do bị cáo và B dùng trong quá trình phạm tội cần tịch thu, phát mại sung quỹ Nhà nƣớc theo qui định;
+ Xét thấy 1 thẻ nhớ 2GB, 01 sim điện thoại có số seri 8984040667002581237 không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Đối với đối tƣợng tên A bán trái phép Methamphetamine cho bị cáo là do bị cáo tự khai. Cơ quan CSĐT Công an thành phố H tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, khi nào làm rõ đƣợc nhân thân lai lịch và hành vi vi phạm sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Văn N và Bùi Việt B qua đấu tranh làm rõ và xác định mục đích cất giấu trái phép chất ma túy là đẻ sử dụng cho bản thân, do trọng lƣợng dƣới 1 gam. Bản thân B, N chƣa có tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn N và Bùi Việt B về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp qui định của pháp luật.
Đối với Vũ Đại D đƣợc Bùi Việt B và Nguyễn Văn N rủ đi chơi cùng. Tuy nhiên, B và N không nói cho D biết việc mua ma túy và D cũng không biết B, N đi mua ma túy. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H xác định D không vi phạm nên không để cập hình thức xử lý đối với D là phù hợp.
Về án phí: áp dụng Điều 99 BLTTHS, Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016. Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Kim H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đinh Kim H 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 30/5/2017;
2. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định đƣợc đựng trong 01 phong bì đƣợc niêm phong số 159/KLGĐ - PC54 của Phòng kỹ thật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng, có đóng 03 dấu giáp lai; Sim điện thoại số 0941105493 và sim điện thoại số 0978320156; 01 bình dùng để sử dụng ma túy đá, nắp bình đƣợc đục lỗ để cắm 01 ống hút nƣớc và 03 cóong để đựng ma túy đá; 01 túi nilon hình chữ nhật bên trong chứa nhiều túi niloon nhỏ hình vuông
+ Tịch thu phát mại sung quĩ Nhà nƣớc 01 điện thoại đi động nhãn hiệu NOKIA 1280 màu đen số imei: 356231049770481 (trong phong bì niêm phong có chữ ký của Nguyễn Văn N và Hoàng Thị L) và chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Mobistar màu đen số imei 359155421411538 (trong phong bì niêm phong có chữ ký của Đinh Kim H và Hoàng Thị L).
+ Trả lại cho bị cáo H 1 thẻ nhớ loại 2GB; 01 sim Viettel số seri: 8984040667002581237 (trong phong bì niêm phong có chữ ký của Đinh Kim H và Hoàng Thị L).
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2017 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố H);
4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Buộc bị cáo Đinh Kim H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231, 234 Bộ luật tố tụng hình sự; Bị cáo Đinh Kim H đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND Tp H; - Công an Tp H; - Trại tạm giam thuộc CA tỉnh HD; - Chi cục THADS Tp H; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Lưu VP; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trƣơng Thị Tố Uyên |