vanban.org

Bản án 173/2015/HSST — Hình sự

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 26/11/2015 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuy n bố: Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án. Về tang vật: Áp dụng Điều 76 BLTTHS; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HÌNH SỰ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuy n bố: Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN
Bản án số: 173 /2015/HSST

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ngày 26/11/2015

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thầm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Khanh

Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Đào Văn Hùng

2/ Ông Trần Văn Đức

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thoa - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đính – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2015 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An mở phiên tòa công khai xét xử sở thẩm vụ án hình sự thụ lý số 161/2015/HSST ngày 02/11/2015 đối với bị cáo sau:

Bị cáo: Nguyễn Quang T, sinh năm 1989;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp L, xã K, huyện Đ, tỉnh Long An.

Chổ ở hiện nay: Ấp L, xã K, huyện Đ, tỉnh Long An.

Nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1965; Anh chị em ruột: Không; Vợ: Lê Thị Hồng N, sinh năm 1993; Con 01 người sinh năm 2015; Tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo được tại ngoại điều tra đến nay có mặt tại phiên toà.

Người bị hại: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1975 (chết);

Hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật cho bị hại: Bà Lư Bích T, sinh năm 1976;

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NH N TH Y:

Bị cáo Nguyễn Quang T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 09h30’ ngày 12/01/2015, Nguyễn Quang T có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển số 62K2-6115 lưu thông trên đường lộ nhựa khu công nghiệp Hải Sơn hướng từ tỉnh lộ 825 vào khu công nghiệp Hải Sơn. Đến đoạn đường gần dốc cầu Hải Sơn thuộc ấp I, xã E, huyện Đ, tỉnh Long An, T điều khiển xe chạy không đúng làn đường (lấn trái) và chạm với xe mô tô biển số 62F6-9818 do Nguyễn Văn L điều khiển lưu thông hướng ngược lại. Hậu quả làm anh L tử vong tại hiện trường.

Tại biên bản sơ đồ hiện trường tai nạn giao thông ngày 12/01/2015 của Cơ quan CSĐT Công an huyện Đức Hòa xác định hiện trường còn nguyên vẹn, mặt đường bằng nhựa, bằng phẳng, có vạch sơn không liên tục phân làn xe cơ giới chạy và vạch sơn liên tục phân làn xe mô tô chạy, mặt lộ rộng 17m (đường cho xe ô tô là 12m, đường cho xe mô tô rộng mỗi bên 2,5m). Quá trình khám nghiệm đo các dấu vết, vị trí phương tiện vào vạch sơn liên tục bên lề phải hướng từ tỉnh lộ 825 về khu công nghiệp Hải Sơn,kết quả như sau:

- Vùng mũ bể màu xanh và màu đỏ không rõ hình dạng có kích thước 1,10m và 0,65m (1), tâm vùng vạch rơi đo vào vạch sơn là 6,40m.

- Vết cày không liền nét dài 1,90m (2), đàu vết cày đo vào vạch sơn là 6,90m, cuối vết cày nằm dưới gác chân bên trái xe mô tô biển số 62K2-6115.

- Xe mô tô biển số 62K2-6115 (3) ngã nghiêng sang trái, đầu xe hướng về tỉnh lộ 825, tâm bánh trước và bánh sau đo vào vạch sơn lần lượt là 8m và 8,20m.

- Xe mô tô biển số 62F6-9818 (4) ngã nghiêng sáng trái. Tâm bánh trước và bánh sau đo vào vạch sơn lần lượt là 5,75m và 5,35m.

Tâm vùng mũ bể màu xanh và màu đỏ (1) đo lần lượt đến tâm trục bánh trước (3) là 1m; đến đầu vết cày (2) là 0,50m; đến trụ biển báo hiệu giao thông đường bộ, biển chỉ dẫn cầu An Hạ và biển cấm trọng tải cầu 30T là 28,50m.

Cơ quan CSĐT tạm giữ phương tiện xe mô tô 62K2-6115 và xe mô tô biển số 62F6-9818 để làm rõ.

Quá trình điều tra thu thập chứng cứ, cơ quan CCST xác định lỗi trong vụ tai nạn giao thông là của Nguyễn Quang T điều khiển xe mô tô lưu thông không đúng làn đường (lấn trái) vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ gây ra vụ tai nạn giao thông làm chết 01 người.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 23 ngày 22/01/2015 của trung tâm pháp y tỉnh Long An kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Văn L là do chấn thương sọ não nặng (xuất huyết não).

Tại bản kết luận giám định pháp y về hóa pháp số 86/88/92 ngày 12/02/2015 của Phân viện pháp y quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận trong mẫu máu của nạn nhân Nguyễn Văn L có tìm thấy Ethanol với hàm lượng 197,50mg trong 100ml máu, không tìm thấy methanol.

Ngày 16/7/2015 tại cơ quan CSĐT, Nguyễn Quang T thỏa thuận với bà Lư Bích T (vợ nạn nhân Nguyễn Văn L) bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 20.000.000 đồng, và T có đơn bãi nại cam kết không yêu cầu về trách nhiệm dân sự và hình sự đối với Nguyễn Quang T.

Ngày 16/7/2015, cơ quan CCST trao trả xe mô tô biển số 62K2-6115 cho chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Quang T.

Riêng xe mô tô biển số 62F6-9818 là loại xe của Trung Quốc, xác định là của Nguyễn Văn L, bà Lư Bích T không có yêu nhận lại tài sản này. Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa đang tạm giữ xe mô tô biển số 62F6-9818.

Tại bản cáo trang số 176/QĐ-KSĐT ngày 29/10/2015, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Bộ Luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại cũng như người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 202 Bộ Luật hình sự. Và đề nghị áp dụng các Điểm b, p Khoản 1 Điều 46, Khoản 2 Điều 46 và Điều 33 Bộ Luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 12 đến 18 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

X T TH Y:

Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Quang T tại phiên tòa đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với lời khai người đại diên hợp pháp của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Nguyễn Quang T điều khiển xe mô tô biển số 62K2-6115 lưu thông trên đường lộ nhựa khu công nghiệp Hải Sơn hướng từ tỉnh lộ 825 vào khu công nghiệp Hải Sơn. Đến đoạn đường gần dốc cầu Hải Sơn thuộc ấp I, xã E, huyện Đ, tỉnh Long An, T điều khiển xe chạy không đúng làn đường (lấn trái) và chạm với xe mô tô biển số 62F6-9818 do Nguyễn Văn L điều khiển lưu thông hướng ngược lại. Hậu quả làm anh L tử vong tại hiện trường.

Như vậy, có đủ yếu tố kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Quang T đã vi phạm Khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và cấu thành tội “Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” với tình tiết định khung tại Khoản 1 Điều 202 BLHS như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông mà đặc biệt tình trạng tai nạn giao thông hiên nay xảy ra ngày càng gia tăng. Vì vậy, cần phải xử lý thật nghiêm khắc, áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, không tiền sự. Do đó, áp dụng Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, sớm trở về làm người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không nghề nghiệp nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 62K2-6115 Cơ quan CSĐT trao trả đã lại cho chủ sở hữu là Nguyễn Quang T xong.

Xe mô tô biển số 62F6-9818 là loại xe của Trung Quốc, xác định là của Nguyễn Văn L, bị hư hỏng hoàn toàn, không còn giá trị sử dụng bà Lư Bích T không có yêu nhận lại tài sản nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo T và người đại diện theo pháp luật cho bị hại là bà T đã thỏa thuận bồi thường xong và không có yêu cầu bồi thường nào khác nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuy n bố: Bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”

Áp dụng Khoản 1 Điều 202, Điểm b, p Khoản 1, Khoản 2, Điều 46, Điều 33 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.

Về tang vật: Áp dụng Điều 76 BLTTHS;

- Tịch thu tiêu hủy một xe mô tô biển số 62F6-9818 là loại xe của Trung Quốc.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 99 BLTTHS, Pháp lệnh về án phí lệ phí tòa án buộc bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.

Phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm, bị cáo, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

T. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ