- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "yến Quan"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y:
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Phí và lệ phí; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1723/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08/5/2024 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Quốc Hưng
2. Bà Võ Thị Gái
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08/5/2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 2924/2023/TLST-HNGĐ ngày 01/12/2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1632/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 4421/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/4/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y, sinh năm 1994.
Thường trú: phường Linh Tây, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
(Bà Y có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Phú Qu, sinh năm 1994.
Địa chỉ: phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
(ông Qu vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- 1 -
- Theo Đơn khởi kiện (Đơn xin ly hôn) đề ngày 13/11/2023, Đơn sửa đổi, bổ sung nội dung khởi kiện đề ngày 05/01/2024, Bản tự khai đề ngày 05/01/2024, Biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và Biên bản không Qu hành hòa giải được, bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y là nguyên đơn trình bày:
Bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y và ông Nguyễn Phú Qu chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 189, đăng ký ngày 29/12/2016 do Ủy ban nhân dân phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cấp.
Quá trình chung sống ông bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, khác biệt về tính cách dẫn đến hôn nhân không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Ông Qu có tiền án tiền sự, thường hay tác động vật lý với vợ con, dù đã được gia đình khuyên răn nhiều lần nhưng ông Qu vẫn cờ bạc và chơi chất kích thích không chí thú làm ăn để lo cho cuộc sống gia đình. Ông bà đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Phú Qu để bà ổn định cuộc sống lo cho con cái. Ông Qu cũng không đến Tòa án để giải quyết vụ án thể hiện ông thiếu ý chí trong việc hòa giải, giải quyết mâu thuẫn của vợ chồng.
- Về con chung: Bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y và ông Nguyễn Phú Qu có 02 con chung là Nguyễn Phú Thiên Ân, sinh ngày 11/5/2017 và Nguyễn Kim Thiên Y1, sinh ngày 13/9/2018. Bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu ông Qu cấp dưỡng nuôi con.
Về điều kiện chăm sóc con: Bà Y hiện đang ở cùng với bố mẹ ruột của bà tại Ấp Cầu Chùa, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An (nhà của bố mẹ) và kinh doanh mỹ phẩm online, thu nhập mỗi tháng khoảng 15.000.000 đồng nên có đủ điều kiện về không gian, thời gian và kinh tế để trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc hai con phát triển ổn định. Ngoài ra, ông Qu hiện thất nghiệp và dính vào các tệ nạn xã hội, chỉ ở nhà nên không có điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con tốt nhất. Mẹ chồng bà là bà Lâm Thị Kim X là người phải trực tiếp nuôi dưỡng các con của ông bà nhưng bà X đã lớn tuổi không đủ sức khỏe, điều kiện kinh tế để chăm sóc các cháu nên đã đề nghị bà rước các con về nuôi. Tuy nhiên, ông Qu kiếm chuyện ngăn cản nhiều lần nên bà phải để con lại ở với ông Qu, nhưng ông vẫn không chăm lo chí thú làm ăn và chăm sóc con chung. Đầu tháng 3/2024, bà X tiếp tục đề nghị bà dẫn các con về nuôi nhưng bà chỉ mới dẫn được bé Nguyễn Kim Thiên Y1, sinh ngày 13/9/2018 về ở cùng do bé Nguyễn Phú Thiên Ân, sinh ngày 11/5/2017 hiện đang học lớp 1. Bà Y dự tính sau khi kết thúc năm học bà sẽ dẫn bé Ân về sống chung. Do đó, Bà Y đề nghị Tòa chấp nhận cho bà được nuôi cả hai con chung.
- Về tài sản chung: Bà Y khai không có.
- Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà Y khai không có.
- Bị đơn là ông Nguyễn Phú Qu mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lên Tòa để trình bày ý kiến, tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn không đến, cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì trong vụ án.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn là bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bị đơn là ông Nguyễn Phú Qu vắng mặt không có lý do, không có văn bản thể hiện ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử tại phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho Bà Y được ly hôn với ông Qu và giao hai con chung cho Bà Y trực tiếp nuôi dưỡng, không xem xét việc ấp dưỡng nuôi con do Bà Y không có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Bà Y có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Qu. Đây là tranh chấp về ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo kết quả xác minh của Công an phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Qu thực tế có cư ngụ tại địa chỉ số 145 đường 11, phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 189, đăng ký ngày 29/12/2016 do Ủy ban nhân dân phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì hôn nhân giữa Bà Y và ông Qu là hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Qu đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do; Bà Y có yêu cầu giải quyết vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ vào Điều 175, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Qu, Bà Y.
Xét yêu cầu của đương sự:
Về hôn nhân: Bà Y có yêu cầu ly hôn với ông Qu. Hội đồng xét xử xét thấy: Theo Bà Y trình bày cuộc sống vợ chồng giữa bà và ông Qu có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm dẫn đến cuộc sống vợ chồng hay xảy ra cãi vã, không hạnh phúc, vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Ông Qu có tiền án, tiền sự, hay tác động vật lý với vợ con, tham gia chơi cờ bạc, chơi chất kích thích. Hai ông bà đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Theo kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh không rõ về mâu thuẫn gia đình của vợ chồng Bà Y, ông Qu. Tuy nhiên, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Qu đến Tòa để trình bày ý kiến, tham gia phiên hòa giải và phiên tòa xét xử vụ án nhưng ông Qu không đến, cũng không có ý kiến gì gửi cho Tòa, chứng tỏ ông Qu thiếu thiện chí trong việc mong muốn giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy, cuộc sống vợ chồng của Bà Y và ông Qu không hạnh phúc, không còn yêu thương chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn trầm trọng không thể giải quyết, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà Y.
Về con chung: Bà Y và ông Qu có 02 con chung là Nguyễn Phú Thiên Ân, sinh ngày 11/5/2017 và Nguyễn Kim Thiên Y1, sinh ngày 13/9/2018. Bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Ông Qu không có yêu cầu được nuôi dưỡng con trẻ trong quá trình giải quyết vụ án. Bà Y đã trình bày điều kiện về tinh thần, vật chất, thời gian để yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng các trẻ. Ngoài ra, theo kết quả xác minh của Công an phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức thì ông Qu có một tiền án về tội trộm cắp tài sản. Do đó, việc giao hai con chung nêu trên cho Bà Y trực tiếp nuôi dưỡng là cần thiết và đảm bảo sự phát triển ổn định của các trẻ về thể chất cũng như tinh thần, tính cách, nhân cách của các trẻ.
Về mức cấp dưỡng nuôi con: Bà Y không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y khai không có, ông Qu vắng mặt không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Trường hợp đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu ly hôn của nguyên đơn được Toà án chấp nhận nên căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì nguyên đơn là Bà Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng, được cấn trừ toàn bộ vào tiền tạm ứng án phí mà Bà Y đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội (kèm theo Danh mục án phí, lệ phí Tòa án),
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y được ly hôn với ông Nguyễn Phú Qu.
Giấy chứng nhận kết hôn số 189, đăng ký ngày 29/12/2016 do Ủy ban nhân dân phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Phú Qu và bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y hết giá trị pháp lý từ thời điểm bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Nguyễn Phú Thiên Ân, sinh ngày 11/5/2017 và Nguyễn Kim Thiên Y1, sinh ngày 13/9/2018 cho Bà Y trực tiếp nuôi dưỡng; Bà Y không yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con.
Ông Qu được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Bà Y và gia đình không được cản trở ông Qu trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không trực tiếp nuôi dưỡng.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân tổ chức theo qui định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y khai nhận không có. Trường hợp ông Qu có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì sẽ được giải quyết ở một vụ án khác;
2. Về án phí:
Bà Nguyễn Huỳnh Bảo Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, được cấn trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng mà Bà Y đã nộp theo biên lai số 0001880 ngày 30/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Y không phải nộp thêm án phí.
3. Quyền kháng cáo:
Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền. Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - VKSND TP.Thủ Đức; - Chi cục THADS TP.Thủ Đức; - UBND nơi cấp GCN kết hôn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Cao Quốc Hƣng Võ Thị Gái | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Vƣơng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA Phạm Minh Vƣơng |