- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phương D - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – ĐỒNG NAI TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 172/2026/HS-ST. Ngày: 22-4-2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Minh Hoàng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Phước.
2. Bà Lê Thị Ánh Sáng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Phượng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2026/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Phương D, sinh ngày 05/7/1995 tại tỉnh Đồng Nai.
Căn cước công dân số: 075095014946. Ngày cấp: 31/8/2021. Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội.
Nơi cư trú: Tổ A, ấp K, xã L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 22/4/2026, bị Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đồng Nai xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 171/2026/HS-ST.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 21/10/2025, tạm giữ, chuyển tạm giam ngày 31/10/2025 trong vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam L – Trại tạm giam Số 1 Công an tỉnh Đ (có mặt).
- Bị hại: Chị Phạm Thị Hồng N, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Xóm C, xã K, tỉnh Ninh Bình.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Lê Duy A, sinh năm 1993.
Nơi đăng ký thường trú: 51Q, Ô, phường N, tỉnh Ninh Bình.
Địa chỉ: Căn hộ A, K, Chung cư C, đường Số A, Khu phố G, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Lương Huy S, sinh năm 1972.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp Văn H, xã L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Ấp C, xã A, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
+ Bà Đinh Thị H1, sinh năm 1982.
Nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã V, tỉnh Ninh Bình.
Địa chỉ: Tổ A, Ấp C, xã A, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
+ Anh Trần Hoàng Q, sinh năm 1994.
Địa chỉ: Ấp P, xã L, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 9/2025, Nguyễn Phương D quan sát thấy căn nhà một trệt hai lầu tại thửa đất số 66, tờ bản đồ số 16 thuộc khu A, xã B, tỉnh Đồng Nai, do chị Phạm Thị Hồng N đứng tên chủ sở hữu, cổng không khoá, không có người trông coi, cổng mở nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà trộm cắp tài sản. Từ ngày 08/9/2025 đến ngày 01/10/2025, D đã 06 lần điều khiển xe mô tô biển số 72S2-3750 mang theo tua vít, xà beng, cưa, cờ lê, kìm đến căn nhà vừa nêu để tháo, gỡ, chiếm đoạt tài sản gắn trong căn nhà, cụ thể như sau:
- Lần thứ 1: Ngày 08/9/2025, D sử dụng các dụng cụ mang theo, tháo gỡ, chiếm đoạt các tài sản gồm:
+ 01 (một) bộ vòi sen tắm nóng lạnh bằng inox 304, nhãn hiệu Cary Royal CA-106 ở phòng vệ sinh ở tầng trệt.
+ 01 (một) bộ vòi sen tắm nóng lạnh bằng inox 304, nhãn hiệu Cary Royal CA-106 ở phòng vệ sinh bên trong phòng ngủ thứ 1 tại tầng 1.
+ 01 (một) cây sen tắm đứng và 01 (một) dây sen cầm tay nhãn hiệu Inax BFV-1405S ở phòng vệ sinh bên trong phòng ngủ thứ 2 tại tầng 1 (D bỏ lại van xã do vặn không được).
Sau đó, D chở toàn bộ số tài sản trên mang về nhà cất giấu.
- Lần thứ 2: Ngày 11/9/2025, cũng với cách thức tương tự, D đã chiếm đoạt:
+ 01 máy bơm hút hồ bơi màu đen, nhãn hiệu Emaux, công suất 2HP, điện áp 220V, xuất xứ Trung Quốc, thuộc hệ thống lọc bể bơi.
+ 01 máy bơm loại chìm dưới nước hiệu Redbud, model: 4SDM6/8-0.75KW, Voltage: 220V/240V, Power: 0.75KW/1.0HP, speed: 2850r/min, F: 50Hz.
+ 01 máy bơm loại chìm dưới nước hiệu Redbud, model: 4SDM-1.1KW, Voltage: 220V/240V, Power: 1.1KW/1.5HP, speed: 2850r/min, Frequency: 50Hz, C: 40UF.
Sau đó, D chở đi bán cho 01 người không rõ nhân thân lai lịch 01 máy bơm nhãn hiệu Emaux, công suất 2HP được 400.000 đồng; bán cho ông Lương Huy S ở ấp C, xã A, tỉnh Đồng Nai 01 máy bơm Redbud công suất 1.5HP được 400.000 đồng; bán cho bà Đinh Thị H1 chủ vựa phế liệu ở ấp C, xã A, tỉnh Đồng Nai 01 máy bơm Redbud công suất 1HP được 400.000 đồng.
- Lần thứ 3: Ngày 13/9/2025, cũng với cách thức tương tự, D đã chiếm đoạt:
+ 01 bộ cửa loại 01 cánh xoay, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 2.0mm, kích thước cao 2,05 mét, ngang 0,87 mét tại phòng vệ sinh tầng trệt.
+ 01 bộ cửa loại 01 cánh xoay, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 2.0mm, kích thước cao 2,14 mét, ngang 0,87 mét và 01 khung ô kính lấy sáng, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 2.0mm, kích thước cao 0,42 mét, ngang 1,03 mét tại phòng vệ sinh của phòng ngủ thứ 1 trên tầng 1.
+ 01 bộ cửa sổ loại 2 cánh xoay, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 1.4mm, kích thước cao 1,39 mét, ngang 1,57 mét tại hành lang tầng 1.
Sau đó, D tháo rời các thanh nhôm, bó lại, chở đến vựa phế liệu của bà Đinh Thị H1 bán được 2.000.000 đồng.
- Lần thứ 4: Ngày 16/9/2025, cũng với cách thức tương tự, D đã chiếm đoạt:
+ 01 bộ cửa loại 02 cánh xoay, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 2.0mm, kích thước cao 2,22 mét, ngang 1,65 mét tại ô cửa ra ban công phía sau tầng 2.
+ 01 bộ cửa loại 02 cánh xoay, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 2.0mm, kích thước cao 2,31 mét, ngang 2,35 mét tại ô cửa ra ban công phía trước tầng 2.
Sau đó, D tháo rời các thanh nhôm, bó lại, chở đến vựa phế liệu của bà Đinh Thị H1 bán được 2.000.000 đồng.
- Lần thứ 5: Ngày 21/9/2025, cũng với cách thức tương tự, D đã chiếm đoạt các bộ cửa gắn tại ô cửa ra ban công phía trước tầng 1, gồm:
+ 04 (bốn) khung cánh cửa, loại cánh trượt, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 2.0mm, kích thước mỗi khung cánh cửa cao 2,21 mét, ngang 1,01 mét;
+ 02 (hai) cánh cửa trượt chống muỗi phía ngoài, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, độ dày 2.0mm, kích thước mỗi cánh cao 2,25 mét, ngang 1,01 mét;
+ 01 (một) thanh ray cố định cánh cửa trượt, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 2.0mm, dài 4m04;
+ 01 (một) bộ cửa loại 01 cánh xoay, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 2.0mm, kích thước cao 2,26 mét, ngang 1,07 mét.
Sau đó, D tháo rời các thanh nhôm, bó lại, chở đến vựa phế liệu của bà Đinh Thị H1 bán được 1.800.000 đồng.
- Lần thứ 6: Ngày 01/10/2025, cũng với cách thức tương tự, D đã chiếm đoạt các bộ cửa gắn tại tầng trệt ngôi nhà, gồm:
+ 01 (một) bộ cửa loại 02 cánh xoay, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 2.0mm, kích thước cao 2,14 mét, ngang 1,67 mét.
+ 01 (một) bộ cửa loại 02 cánh xoay, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 2.0mm, kích thước cao 2,64 mét, ngang 2,35 mét.
+ 01 (một) bộ cửa loại cánh trượt, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, dày 2.0mm, kích thước cao 2,99 mét, ngang 3,26 mét.
+ 01 (một) cánh cửa trượt chống muỗi phía ngoài, làm bằng nhôm xingfa nhập khẩu Q - Trung Quốc, độ dày 2.0mm, kích thước ngang 1,63m x cao 2,4m.
Sau đó, D tháo rời các thanh nhôm, bó lại, chở đến vựa phế liệu của bà Đinh Thị H1 bán được 1.700.000 đồng.
Đến ngày 03/10/2025, chủ sở hữu căn nhà trên phát hiện bị mất trộm nên đã đến Cơ quan Công an trình báo.
Qua truy xét, Cơ quan điều tra xác định Nguyễn Phương D là đối tượng thực hiện hành vi phạm tội và đã tiến hành thu giữ vật chứng gồm:
- Tại tiệm phế liệu của bà Đinh Thị H1 ở ấp C, xã A, tỉnh Đồng Nai (do bà H1 tự nguyện giao nộp): 01 (một) máy bơm loại chìm dưới nước tên R, model: 4SDM6/8-0,75KW, Voltage: 220V/240V, Power: 0.75KW/1.0HP, speed: 2850r/min, Frequency: 50Hz và 50 kg nhôm gồm các thanh nhôm:
+ 01 (một) khung cửa kích thước chiều cao: 226 cm và chiều rộng: 107 cm, đã hư hỏng hoàn toàn, không còn giá trị sử dụng.
+ 01 (một) khung cánh cửa riêng lẻ kích thước chiều cao: 221 cm, chiều rộng: 82 cm, đã hư hỏng hoàn toàn, không còn giá trị sử dụng.
+ 01 (một) khung cánh cửa kích thước chiều cao: 212 cm; chiều rộng: 84 cm, đã hư hỏng hoàn toàn, không còn giá trị sử dụng.
+ 01 (một) thanh ray trượt cửa lùa dài 404 cm, bị gãy thành hai đoạn, đã hư hỏng hoàn toàn, không còn giá trị sử dụng.
+ 02 (hai) cánh cửa lùa kích thước chiều cao: 220 cm; chiều rộng: 99 cm, đã hư hỏng hoàn toàn, không còn giá trị sử dụng.
+ 02 (hai) thanh đáy cánh cửa lùa chiều dài mỗi thanh: 99 cm, đã hư hỏng hoàn toàn, không còn giá trị sử dụng.
+ 09 (chín) thanh nhôm loại dùng để nẹp kính có kích thước cụ thể như sau: T1 thứ 1: 202 cm; T1 thứ 2: 203 cm; T1 thứ 3: 202 cm; T1 thứ 4: 202 cm; T1 thứ 5: 224 cm; T1 thứ 6: 224 cm; T1 thứ 7: 224 cm; T1 thứ 8: 214 cm; T1 thứ 9: 214 cm.
- Tại nhà ông Lương Huy S ở ấp C, xã A, tỉnh Đồng Nai (do ông S tự nguyện giao nộp): 01 máy bơm Redbud công suất 1.5HP;
- Thu giữ tại nơi ở của D: 02 (hai) bộ vòi sen tắm nóng lạnh, làm inox 304, nhãn hiệu Cary Royal CA-106 và 01 (một) cây sen tắm đứng và 01 (một) dây sen cầm tay hiệu Inax BFV-1405S.
Toàn bộ số tài sản trên đã được Cơ quan điều tra giao trả lại cho chủ sở hữu.
Tại Kết luận định giá tài sản số 02/KL–HDĐGTS ngày 23/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã B xác định: 01 (một) máy bơm loại chìm dưới nước tên R loại 1.5HP; 01 (một) máy bơm loại chìm dưới nước tên R loại 1.0HP; 02 (hai) bộ vòi sen tắm nóng lạnh, làm inox 304, nhãn hiệu Cary Royal CA-106; 01 (một) cây sen tắm đứng và 01 (một) dây sen cầm tay hiệu Inax BFV-1405S và 11 bộ khung cửa nhôm xingfa trị giá 57.647.000 đồng (năm mươi bảy triệu, sáu trăm bốn mươi bảy nghìn đồng).
Tại Kết luận định giá tài sản số 06/KL–HĐĐGTS ngày 20/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã B xác định: 01 (một) máy bơm hồ bơi màu đen hiệu Emaux, công suất 2HP, điện áp 220V, xuất xứ Trung Quốc trị giá 2.866.666 đồng (hai triệu, tám trăm sáu mươi sáu nghìn, sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
Tổng giá trị tài sản D trộm cắp là 60.513.666 đồng.
Vật chứng, tài sản thu giữ: 01 (một) xe mô tô biển số 72S2-3750, 01 (một) xà beng, 01 (một) cưa, 01 (một) tua vít màu vàng, 01 (một) cờ lê, Nguyễn Phương D sử dụng vào việc phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, anh Lê Duy A (người đại diện theo uỷ quyền của bị hại chị Phạm Thị Hồng N) yêu cầu bị cáo Nguyễn Phương D bồi thường tài sản bị thiệt hại tổng cộng là 56.362.666 đồng. Trong quá trình điều tra, bà Đinh Thị H1 yêu cầu bị cáo bồi thường 1.700.000 đồng, tại phiên tòa, bà H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSDI-KV ngày 10 tháng 02 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Phương D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Phương D về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025) xử phạt bị cáo Nguyễn Phương D mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) xà beng, 01 (một) cưa, 01 (một) tua vít màu vàng, 01 (một) cờ lê là công cụ Nguyễn Phương D sử dụng phạm tội.
+ Đối với 01 xe mô tô biển số 72S2-3750, do ông Nguyễn D, sinh năm 1984, ngụ tại ấp B, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên. Bị cáo D khai mượn của anh Trần Hoàng Q, sinh năm 1994, trú tại ấp P, xã L, tỉnh Đồng Nai. Anh Q khai mượn của ông Nguyễn D rồi cho Nguyễn Phương D mượn, không biết Nguyễn Phương D sử dụng phạm tội. Hiện chưa làm việc được với ông Nguyễn D nên Cơ điều tra tiếp tục xác minh, điều tra xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo bồi thường theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phương D khai nhận:
Từ ngày 08/9/2025 đến ngày 01/10/2025, lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản, Nguyễn Phương D đã 06 lần đột nhập vào căn nhà một trệt hai lầu tại thửa đất số 66, tờ bản đồ số 16, Khu A, xã B, tỉnh Đồng Nai do chị Phạm Thị Hồng N đứng tên chủ sở hữu, D đã chiếm đoạt 03 (ba) bộ V, 03 máy bơm nước và 11 bộ cửa nhôm, có tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 60.513.666 đồng.
Xét thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Phương D đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025) như Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Đồng Nai truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, chỉ trong thời gian ngắn bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội tại nhà của chị Phạm Thị Hồng N để chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do có tư tưởng hưởng thụ, lười lao động, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp quy định pháp luật.
Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025);
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) xà beng, 01 (một) cưa, 01 (một) tua vít màu vàng, 01 (một) cờ lê là công cụ do Nguyễn Phương D sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, đại diện bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 56.362.666 đồng, bị cáo chưa bồi thường. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường 56.362.666 đồng cho bị hại chị Phạm Thị Hồng N nên ghi nhận buộc bị cáo bồi thường cho chị N số tiền 56.362.666 đồng.
Đối với bà Đinh Thị H1 trong quá trình điều tra yêu cầu bị cáo bồi thường 1.700.000 đồng. Tại phiên tòa, bà H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
Những vấn đề khác: Đối với 01 xe mô tô biển số 72S2-3750, do ông Nguyễn D, sinh năm 1984, ngụ tại ấp B, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Bị cáo D khai mượn của anh Trần Hoàng Q, sinh năm 1994, trú tại ấp P, xã L, tỉnh Đồng Nai. Anh Q khai mượn của ông Nguyễn D rồi cho bị cáo Duy mượn, không biết bị cáo D sử dụng vào việc phạm tội. Hiện chưa làm việc được với ông Nguyễn D nên Cơ điều tra tiếp tục xác minh, điều tra, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phương D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đối với nghĩa vụ bồi thường số tiền 56.362.666 đồng, bị cáo Nguyễn Phương D phải chịu 2.818.133 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 327, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 30, Điều 38, Điều 47, Điều 48, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, năm 2025).
Căn cứ Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương D 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2025 (ngày bắt quả tang trong vụ án “Tàng trữ trái phép chất ma túy”).
2. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) xà beng, 01 (một) cưa, 01 (một) tua vít màu vàng, 01 (một) cờ lê theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/02/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Đồng Nai.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Phương D có nghĩa vụ bồi thường cho chị Phạm Thị Hồng N số tiền 56.362.666 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Phương D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.818.133 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Phương D, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị H1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại chị Phạm Thị Hồng N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lương Huy S vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND khu vực 2 – Đồng Nai; - CQĐT Công an tỉnh Đồng Nai; - THADS tỉnh Đồng Nai (Phòng THADS khu vực 2 – Đồng Nai); - Bị cáo; Bị hại; Người có QL, NVLQ; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Minh Hoàng |