- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Về tình cảm: Chị Lê Thị X được ly hôn v i anh Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật t tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật t tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 172 2 25 HNGĐ-ST Ngày: 29 8 2 25 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- hành h n i đ ng t
ơ th g
ó:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể; Ông Trần Trung Thành
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Cẩm Vân - Thư ký TAND tỉnh Hà Tĩnh.
Đại diện VKSND tỉnh Hà Tĩnh: Bà Dương Thị Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 29 8 2 25, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý s 94 2 25 TLST - HNGĐ ngày 4 4 2 25 về “Tranh chấp hôn nhân gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 166 2 25 QĐXX-ST ngày 11 8 2 25; Quyết định hoãn phiên tòa s 118 2 25 QĐ-ST ngày 20/8/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị X, sinh năm: 1993; Địa chỉ: thôn L, xã K, huyện K (nay là xã K), tỉnh Hà Tĩnh. Có đơn xin vắng mặt.
Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm: 1992; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trư c khi xuất cảnh: xóm I, xã K, huyện K, (nay là xã K), tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang lao động tự do tại nư c ngoài. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
The n i dung đơn h i i n v i hai c tr ng h sơ v n ngu n đơn chị Lê Thị X trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị X và anh Trần Văn T kết hôn hợp pháp v i nhau vào ngày 6 12 2 13 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K (nay là xã K), tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung s ng hạnh phúc v i nhau cho đến năm 2 19 thì anh T đi lao động ở nư c ngoài và cũng từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn liên lạc v i nhau nữa. Sau một thời gian chị X chuyển về ngoại sinh s ng cho đến nay. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm s ng, không tìm thấy tiếng nói chung. Mặt khác, do khoảng cách về địa lý và thời gian vợ chồng chung s ng xa nhau quá lâu nên dẫn đến tình cảm phai nhạt, không còn quan tâm, chia sẽ v i nhau. Nay chị Lê Thị X nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc và không mong mu n duy trì cuộc s ng hôn nhân này nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn T.
- Về con chung: Chị Lê Thị X và anh Trần Văn T có 04 con chung là Trần Lê Hồng Q, sinh ngày 18/9/2014; Trần Lê Hồng C, sinh ngày 13/01/2016; Trần Lê Hồng T1, sinh ngày 24/4/2017 và Trần Lê Hồng T2, sinh ngày 13 5 2 19 hiện nay các con đang s ng cùng ông bà nội tại xóm I, xã K, huyện K (nay là xã K), tỉnh Hà Tĩnh. Khi ly hôn, chị X đồng ý giao 4 con chung cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đồng thời chị không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.
Các cháu Trần Lê Hồng Q, Trần Lê Hồng C, Trần Lê Hồng T1, và Trần Lê Hồng T2 đều có ý kiến trình bày mu n được s ng cùng b và ông bà nội khi b mẹ ly hôn. Trong thời gian b ở nư c ngoài các cháu mong mu n được s ng cùng ông bà nội như hiện nay.
- Về con riêng: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Lê Thị X có 01 con riêng, tên dự kiến đặt là Nguyễn Yến N, sinh ngày 1 6 2 22. Chị X đề nghị Tòa án giao cho chị chăm sóc nuôi dưỡng cháu Yến N.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lê Thị X có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Đối với bị đơn anh Trần Văn T: Ngay từ khi thụ lý Tòa án đã thực hiện việc t ng đạt thông báo thụ lý vụ án, các văn bản t tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã về xác minh tình trạng hôn nhân qua UBND xã K (cũ). Đồng thời xác minh qua gia đình bà Nguyễn Thị T3 (mẹ đẻ anh Trần Văn T). Bà T3 cho biết bà và gia đình đã nhận được Thông báo thụ lý giải quyết vụ án của Tòa án; bà th ng nhất như trình bày của chị Lê Thị X về quan hệ hôn nhân, về con chung giữa chị và anh T. Đồng thời bà T3 cũng nêu quan điểm bà và gia đình không can thiệp vào cuộc s ng của các con. Hiện nay, anh T đang lao động tại Đài Loan (bà không rõ địa chỉ), kể từ ngày chị X bỏ về bên ngoại các cháu Trần Lê Hồng Q, Trần Lê Hồng C, Trần Lê Hồng T1, và Trần Lê Hồng T2 vẫn được ông bà nội nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo. Đ i v i anh Trần Văn T, gia đình đã thông báo việc chị X có yêu cầu ly hôn v i anh và anh có ý kiến th ng nhất v i chị yêu cầu của chị X về việc ly hôn cũng như trách nhiệm nuôi dưỡng 4 con chung của anh chị. Trong thời gian anh lao động ở nư c ngoài, bà Nguyễn Thị T3 (mẹ anh) sẽ thay anh chăm sóc các cháu, anh T không đề nghị chị X phải cấp dưỡng nuôi con. Bên cạnh đó, bà Nguyễn Thị T3 cũng tự nguyện nhận các văn bản từ Tòa án thay anh T.
Để có đầy đủ căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, Tòa án đã gửi công văn đề nghị Ban đ i ngoại Đ (VOV5) đăng thông tin cho anh Trần Văn T. Đài tiếng nói Việt Nam đã đăng thông tin anh T trong các ngày 07,08,09/7/2025 nhưng anh không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc và đề nghị Tòa án: Áp dụng khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2 14, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật TTDS năm 2 15; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết s 326 UBTVQH14 ngày 3 12 2 16 của Ủy ban thường vụ Qu c hội khóa XIV; khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 1 2 24 NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân t i cao, cụ thể:
- Về tình cảm: Chị Lê Thị X được ly hôn v i anh Trần Văn T.
- Về con chung: Giao 4 con chung Trần Lê Hồng Q, sinh ngày 18/9/2014; Trần Lê Hồng C, sinh ngày 13/01/2016; Trần Lê Hồng T1, sinh ngày 24/4/2017 và Trần Lê Hồng T2, sinh ngày 13/5/2019 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh T đang ở nư c ngoài, bà Nguyễn Thị T3 (mẹ đẻ anh T) sẽ thay anh chăm sóc nuôi dưỡng các cháu. Chị Lê Thị X không phải cấp dưỡng nuôi con chung, được quyền đi lại thăm nom các con chung, không ai được phép cản trở.
- Về con riêng: Giao 1 con riêng, tên dự kiến đặt là Nguyễn Yến N, sinh ngày 1 6 2 22 cho chị Lê Thị X được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: chị Lê Thị X phải chịu án phí giải quyết vụ án ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Chị Lê Thị X và anh Trần Văn T kết hôn hợp pháp v i nhau vào ngày 6 12 2 13 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K (nay là xã K), tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung s ng hạnh phúc v i nhau cho đến năm 2 19 thì anh T đi lao động ở nư c ngoài và cũng từ đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn liên lạc v i nhau nữa. Sau một thời gian chị X chuyển về ngoại sinh s ng cho đến nay. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm s ng, không tìm thấy tiếng nói chung. Mặt khác, do khoảng cách về địa lý và thời gian vợ chồng chung s ng xa nhau quá lâu nên dẫn đến tình cảm phai nhạt, không còn quan tâm, chia sẽ v i nhau. Nhận thấy tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời s ng chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy, chị Lê Thị X làm đơn và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giải quyết cho chị được ly hôn v i anh Trần Văn T.
Chị Lê Thị X có đơn xin giải quyết vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án vì lý do công việc.
Anh Trần Văn T hiện đang lao động tại Đài Loan, theo công văn về ph i hợp cung cấp thông tin s 444 QLXNC- Đ1, ngày 18 4 2 25 của Phòng Q1 – Công an tỉnh H cung cấp thông tin: anh Trần Văn T, sinh ngày 1 7 1992, địa chỉ xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đã sử dụng hộ chiếu s P 1331335 xuất cảnh qua Sân bay qu c tế Nội Bài ngày 2 3 2 23 và hiện không thấy thông tin nhập cảnh về nư c trên hệ th ng. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật t tụng dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
. Về n i dung:
Về quan h hôn nhân: Chị Lê Thị X và anh Trần Văn T kết hôn hợp pháp v i nhau vào ngày 6 12 2 13 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K (nay là xã K), tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Cuộc s ng hôn nhân hạnh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Đến nay, vợ chồng đã ly thân trong thời gian dài, tình trạng hôn nhân không thể dung hòa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn v i anh Trần Văn T.
Đối với bị đơn anh Trần Văn T: Ngay từ khi thụ lý Tòa án đã thực hiện việc t ng đạt thông báo thụ lý vụ án, các văn bản t tụng. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã về xác minh tình trạng hôn nhân qua UBND xã K (cũ). Đồng thời xác minh qua gia đình bà Nguyễn Thị T3 (mẹ đẻ anh Trần Văn T). Bà T3 cho biết bà và gia đình đã nhận được Thông báo thụ lý giải quyết vụ án của Tòa án; bà th ng nhất như trình bày của chị Lê Thị X về quan hệ hôn nhân, về con chung giữa chị và anh T. Đồng thời bà T3 cũng nêu quan điểm bà và gia đình không can thiệp vào cuộc s ng của các con. Hiện nay, anh T đang lao động tại Đài Loan (bà không rõ địa chỉ), kể từ ngày chị X bỏ về bên ngoại các cháu Trần Lê Hồng Q, Trần Lê Hồng C, Trần Lê Hồng T1, và Trần Lê Hồng T2 vẫn được ông bà nội nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo. Đ i v i anh Trần Văn T, gia đình đã thông báo việc chị X có yêu cầu ly hôn v i anh và anh có ý kiến th ng nhất v i chị yêu cầu của chị X về việc ly hôn cũng như trách nhiệm nuôi dưỡng 4 con chung của anh chị. Trong thời gian anh lao động ở nư c ngoài, bà Nguyễn Thị T3 (mẹ anh) sẽ thay anh chăm sóc các cháu, anh T không đề nghị chị X phải cấp dưỡng nuôi con. Bên cạnh đó, bà Nguyễn Thị T3 cũng tự nguyện nhận các văn bản từ Tòa án thay anh T.
Để có đầy đủ căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, Tòa án đã gửi công văn đề nghị Ban đ i ngoại Đ (VOV5) đăng thông tin cho anh Trần Văn T. Đài tiếng nói Việt Nam đã đăng thông tin anh T trong các ngày 07,08,09/7/2025 nhưng anh không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án.
Hiện nay, anh T đang lao động tự do Đài Loan, Tòa án đã thực hiện đầy đủ thủ tục xác minh địa chỉ, đồng thời nhắn tin trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng anh T không có văn bản trình bày ý kiến và không có mặt để làm việc theo giấy báo. Vì vậy đây thuộc trường hợp bị đơn c tình che giấu địa chỉ theo khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 1 2 24 NQ-HĐTP ngày 16 5 2 24 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân t i cao. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị X và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời s ng chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy, cần chấp nhận cho chị X được ly hôn v i anh T.
Về c n chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 4 con chung Trần Lê Hồng Q, sinh ngày 18/9/2014; Trần Lê Hồng C, sinh ngày 13/01/2016; Trần Lê Hồng T1, sinh ngày 24/4/2017 và Trần Lê Hồng T2, sinh ngày 13 5 2 19. Kể từ ngày vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và từ thời điểm chị X bỏ về sinh s ng bên nhà ngoại cho đến nay, các cháu đều được ông bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo và các cháu đều có nguyện vọng được s ng v i b và ông bà nội khi b mẹ ly hôn. Hiện nay, anh T đang lao động ở nư c ngoài việc nuôi dưỡng 4 con chung được bà Nguyễn Thị T3 (mẹ đẻ anh T) tự nguyện thay anh chăm sóc các cháu. Hơn nữa, hiện nay chị X không có việc làm ổn định không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, bản thân chị cũng tự nguyện giao 4 con chung cho anh Trần Văn T chăm sóc nuôi dưỡng. Vì vậy, hiện tại giao cả 4 con chung cho anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Chị X không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về c n ri ng: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Lê Thị X có 01 con riêng dự kiến đặt tên là Nguyễn Yến N, sinh ngày 1 6 2 22. Chị X có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Yến N. Xét thấy, mặc dù cháu Yến N được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của chị Lê Thị X và anh Trần Văn T, nhưng cả anh T và chị X đều khẳng định vợ chồng có 4 con chung là các cháu Trần Lê Hồng Q, sinh ngày 18/9/2014; Trần Lê Hồng C, sinh ngày 13/01/2016; Trần Lê Hồng T1, sinh ngày 24/4/2017 và Trần Lê Hồng T2, sinh ngày 13 5 2 19. Đồng thời trong các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện, chị X có xuất trình 1 kết quả xét nghiệm AND kết luận cháu Yến N quan hệ huyết th ng cha con v i người khác, không phải anh Trần Văn T, vì vậy giao cháu Nguyễn Yến N cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Về t i sản chung nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về n phí v qu ền h ng cáo: Nguyên đơn Lê Thị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì c c tr n
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật hôn nhân gia đình năm 2 14, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật TTDS năm 2 15; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết s 326 UBTVQH14 ngày 3 12 2 16 của Ủy ban thường vụ Qu c hội khóa XIV; khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 1 2 24 NQ-HĐTP ngày 16 5 2 24 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân t i cao, cụ thể:
1. Về tình cảm: Chị Lê Thị X được ly hôn v i anh Trần Văn T.
2. Về con chung: Giao 4 con chung Trần Lê Hồng Q, sinh ngày 18/9/2014; Trần Lê Hồng C, sinh ngày 13/01/2016; Trần Lê Hồng T1, sinh ngày 24/4/2017 và Trần Lê Hồng T2, sinh ngày 13/5/2019 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Lê Thị X không phải cấp dưỡng nuôi con chung và được quyền đi lại thăm nom các con chung, không ai được phép cản trở.
3. Về con riêng: Giao 1 con riêng, tên dự kiến đặt là Nguyễn Yến N, sinh ngày 1 6 2 22 cho chị Lê Thị X được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
4. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Chị Lê Thị X phải chịu 3 . đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm (được trừ vào s tiền 3 . đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai s
362895 ngày 4 4 2 25 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh – Qua dịch vụ công trực tuyến).
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - Cơ quan THADS tỉnh Hà Tĩnh; - UBND xã Kỳ Văn; - Đương sự; - Lưu HS, TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Ngân |