vanban.org

Bản án 172/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bị đơn bà Nguyễn Ngô Hồng N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc Bà Nguyễn Ngô Hồng N phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tạm tính đến ngày 07/8/2025 là 46.364.780 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi sáu triệu, ba trăm sáu mươi bốn nghìn, bảy trăm tám mươi đồng) trong đó: Dư nợ quá hạn: 22.019.325 (hai mươi hai triệu, không trăm mười chín nghìn, ba trăm hai mươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bị đơn bà Nguyễn Ngô Hồng N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP Hướng dẫn một số quy định tại…; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2025/DS-ST
Ngày: 07/8/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Vân Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Nguyễn Thị Nguyên

2. Bà Nguyễn Ngọc Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thuý – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 tham gia phiên tòa:– không tham gia.

Ngày 07 tháng 8 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 29/2025/TLST-DS ngày 06/01/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 525/2025/QĐXXST-DS ngày 02/6/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 489/2025/QĐST-DS ngày 30/6/2025 và Thông báo dời phiên tòa số 04/TB-TA ngày 10/7/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (S1).

Địa chỉ: Lầu A, số B - B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phường X, Thành phố Hồ Chí Minh).

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức danh: Tổng giám đốc

Đại diện theo ủy quyền của bà D là ông Lê Ngọc T – Chức danh: Tổng giám đốc.

Người được ủy quyền lại là ông Trần Gia T1; Địa chỉ: B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phường X, Thành phố Hồ Chí Minh).

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Ngô Hồng N, sinh năm: 1998;

Địa chỉ: A ấp A, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh).

(Bà Nguyễn Ngô Hồng N vắng mặt tại phiên Tòa không có lý do; ông Trần Gia T1 có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên Tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S có ông Trần Gia T1 - Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 28/11/2022, bà N có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà N, Ngân hàng đã đồng ý cấp 2 thẻ tín dụng (gồm thẻ VS pay Wave Cre Classic 3848630442, thẻ VTD SacombankPay 3328795392), với hạn mức sử dụng chung là 20.000.000đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 37.359.738 đồng trong đó thẻ VS pay W 3848630442 là 16.087.012 đồng, thẻ thẻ VTD SacombankPay 3328795392 là 21,272,726 đồng)

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà N đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 22.547.406 đồng (trong đó thẻ VS pay W 3848630442 là 9.547.406 đồng, thẻ thẻ VTD SacombankPay 3328795392 là 13.000.000 đồng). (Thứ tự thanh toán căn cứ theo điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng)

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 10/05/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Tính đến ngày 07/11/2024, bà N còn nợ tổng số tiền 38.404.646 đồng, cụ thể như sau:

ĐVT: đồng Loại thẻ

Số thẻ

Nợ gốc

Lãi quá hạn

Dư Nợ

Lãi suất thẻ VS pay

3.72%(2.48%x Wave Cre

7.789.325 33.838.534 13,842,276

150%) Classic

3848630442 VTD

3.72%(2.48%x

14.230.000 33.838.534 24,562,370

SacombankPay 3328795392

150%) Tổng Cộng

22.019.325 16.385.321 38.404.646

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà N, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà N vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S kính đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn bà Nguyễn Ngô Hồng N: Buộc bà Nguyễn Ngô Hồng N phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 07/8/2025 là 46.364.780 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi sáu triệu, ba trăm sáu mươi bốn nghìn, bảy trăm tám mươi đồng) trong đó:

- Dư nợ quá hạn: 22.019.325 đồng

- Lãi quá hạn: 24.345.455 đồng

Và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 08/8/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Bị đơn là bà Nguyễn Ngô Hồng N vắng mặt trong tất cả các lần triệu tập đến toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ngân hàng thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Ngô Hồng N thanh thoán nợ gốc và lãi phát sinh từ việc sử dụng tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/11/2022 do đó Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/11/2022, bà Nguyễn Ngô Hồng N đã ghi thông tin địa chỉ ở hiện tại là A9/9B ấp A, V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã T, Thành phố Hồ Chí Minh). Tại đơn khởi kiện Ngân hàng thương mại cổ phần S đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của bà Nguyễn Ngô Hồng N theo địa chỉ bà N cung cấp tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/11/2022. Ngoài địa chỉ ghi trên Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng thì Ngân hàng thương mại cổ phần S khẳng định không biết địa chỉ nào khác của bà Nguyễn Ngô Hồng N. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án thì việc bà N thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong hợp đồng mà không thông báo cho Ngân hàng thương mại cổ phần S biết về nơi cư trú mới thì được coi là cố tình giấu địa chỉ do đó Tòa án giải quyết vụ án theo quy định chung. Do bị đơn bà Nguyễn Ngô Hồng N có nơi cư trú tại xã T, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự vắng mặt của đương sự: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S là ông Trần Gia T1 có đơn xin vắng mặt tại toà. Bị đơn bà Nguyễn Ngô Hồng N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông T1 và bà N theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Do giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn được xác lập vào năm 2022 nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giải quyết vụ án.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Ngô Hồng N nhưng bà N vẫn vắng mặt không đến Tòa án giải quyết, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không giao nộp tài liệu, chứng cứ bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn. Điều này cho thấy bà N đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần, mã số doanh nghiệp: 0302847233 đăng ký lần đầu ngày 24/01/2003, đăng ký thay đổi lần thứ 27 ngày 12/10/2022 thì Ngân hàng thương mại cổ phần S là tổ chức có tư cách pháp nhân được quyền tham gia các giao dịch dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Ngô Hồng N là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện. Đồng thời sự thỏa thuận của hai bên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/11/2022 về việc cấp thẻ tín dụng có nội dung phù hợp với quy định tại Điều 91, khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên hợp đồng đã giao kết có hiệu lực và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng. Vì vậy các bên phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết trong hợp đồng.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S yêu cầu bà Nguyễn Ngô Hồng N thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền nợ thẻ tính đến ngày 07/8/2025 là 46.364.780 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi sáu triệu, ba trăm sáu mươi bốn nghìn, bảy trăm tám mươi đồng) trong đó:

- Dư nợ quá hạn: 22.019.325 (hai mươi hai triệu, không trăm mười chín nghìn, ba trăm hai mươi lăm) đồng.

- Lãi quá hạn: 24.345.455 (hai mươi bốn triệu, ba trăm bốn mươi lăm nghìn, bốn trăm năm mươi lăm) đồng.

Xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/11/2022 thể hiện nội dung bà Nguyễn Ngô Hồng N đề nghị cấp 2 thẻ tín dụng, loại thẻ: thẻ VS pay Wave Cre Classic 3848630442, thẻ VTD SacombankPay 3328795392, với hạn mức sử dụng chung là 20.000.000. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà N đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là số tiền 22,547,406 đồng. (trong đó thẻ W 3848630442 là 9.547.406 đồng, thẻ VTD SacombankPay 3328795392 là 13.000.000 đồng) (cả hai thẻ). Thứ tự thanh toán theo quy định Điều 21 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Theo bảng tóm tắt sao kê ngày 07/8/2025 do Ngân hàng cung cấp thể hiện kỳ thanh toán cuối cùng của Bà N là vào ngày 07/11/2024, sau đó bà N không tiếp tục thanh toán nợ thẻ cho Ngân hàng kể từ kỳ thanh toán ngày 07/11/2024 cho đến nay. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho nên từ ngày 10/05/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với dư nợ gốc với thẻ VS pay Wave Cre Classic 3848630442 là 13.842.276 đồng và áp dụng lãi suất quá hạn (4,155%) và thẻ VTD SacombankPay 3328795392 là 24.562.370 đồng áp dụng lãi suất quá hạn (3.9%) là phù hợp với quy định tại Điều 13 và Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Tại khoản 18.2 Điều 18 và Điều 19 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 29/11/2019) quy định về trách nhiệm thanh toán của chủ thẻ, theo đó, chủ thẻ có nghĩa vụ thanh toán dư nợ đầy đủ và đúng hạn theo thông báo của Ngân hàng. Xét thấy, bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà N thanh toán nợ gốc và lãi quá hạn tính đến ngày 07/8/2025, là phù hợp quy định tại Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), khoản 2 Điều 17 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Buộc bà N phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 22.019.325 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày 07/11/2024 là 16.385.321 đồng và lãi phát sinh từ ngày 08/11/2024 cho đến khi bà N trả dứt nợ theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (bao gồm Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 6 và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; cụ thể: Bà Nguyễn Ngô Hông N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.318.239 đồng (Hai triệu, ba trăm mười tám nghìn, hai trăm ba mươi chín đồng)

Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 70, Điều 72, khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 91, 95 và 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ vào Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án;

Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ vào Điều 6 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bị đơn bà Nguyễn Ngô Hồng N về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Buộc Bà Nguyễn Ngô Hồng N phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tạm tính đến ngày 07/8/2025 là 46.364.780 đồng (Bằng chữ: Bốn mươi sáu triệu, ba trăm sáu mươi bốn nghìn, bảy trăm tám mươi đồng) trong đó:

- Dư nợ quá hạn: 22.019.325 (hai mươi hai triệu, không trăm mười chín nghìn, ba trăm hai mươi lăm) đồng.

- Lãi quá hạn: 24.345.455 (hai mươi bốn triệu, ba trăm bốn mươi lăm nghìn, bốn trăm năm mươi lăm) đồng.

Kể từ ngày 08/8/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 28/11/2022 (bao gồm Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Các bên thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Bà Nguyễn Ngô Hồng N phải chịu 2.318.239 đồng (Hai triệu, ba trăm mười tám nghìn, hai trăm ba mươi chín) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

2.2. Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 960.116 đồng (chín trăm sáu mươi nghìn, một trăm mười sáu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0051681 ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố H).

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ