- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Tuấn L phạm tội “Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vi Tuấn L phạm tội “Cướp giật tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật hình sự giảm; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Đ TP. H ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 172/2024/HS-ST Ngày: 24/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Xây
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Minh Phương
2. Bà Nguyễn Thị Cờ
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thu Hà - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đ tham gia phiên toà:
Ông Lương Tuấn Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 163/TLST-HS ngày 29/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/QĐXXST-HS ngày 11/6/2024, đối với:
1. Bị cáo: Vi Tuấn L, Sinh năm: 2005; Giới tính: Nam ;
Nơi ĐKNK: Bản Liên Đ, xã C, huyện C, tỉnh N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sinh viên; Văn hóa: 12/12; Con ông: Vi Văn B; Con bà: Kha Thị H; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ và tạm giam từ ngày: 25/2/2024, Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H: có mặt.
2. Bị hại: anh Nguyễn Trung T, sinh năm 1988; Đ/c: thôn Đ, xã H, huyện U, tp H: có mặt.
3. Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Tùng M – Chi nhánh VP Luật sư X tại H; Đ/c; tầng 5 phòng 502, số 21 T, phường D, quận C, tp H: có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Vi Tuấn L nảy sinh ý định đi chiếm đoạt tài sản của các cửa hàng bán máy điện thoại.
Vào khoảng 14h50’ ngày 25/02/2024, khi đang đi bộ ở khu vực đường L, L thấy cửa hàng mua bán điện thoại của anh Nguyễn Trung T (Sinh năm: 1988; Địa chỉ: xã H, huyện U, thành phố H) tại địa chỉ 1166 đường L, phường L, quận Đ, thành phố H liền vào cửa hàng và hỏi mua điện thoại Iphone 11 Promax.
Anh T lấy ra 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu iPhone 11 Promax (một chiếc màu đen và một chiếc màu xanh rêu) bảo L cầm cả hai máy để lựa chọn. L giả vờ kiểm tra điện thoại, lấy sim điện thoại của mình lắp vào chiếc điện thoại iPhone 11 Promax màu đen để kiểm tra máy. Sau đó, L tiếp tục hỏi mua cục phát wifi tại cửa hàng của anh T.
Khi anh T quay vào trong để lấy cục phát wifi cho L. Lợi dụng sơ hở, L cầm 02 chiếc điện thoại iPhone 11 Promax ở tay phải và nhanh chóng bỏ chạy tẩu thoát. L chạy vào ngõ 1160 đường L, phường L, quận Đ, thành phố H được khoảng 50m thì nghe thấy tiếng anh T hô cướp và đuổi theo ngay sau. Chạy đến trước số 17, ngõ 1160, đường L có một bãi cát, L đã vứt 02 chiếc điện thoại vừa cướp giật được vào đây rồi tiếp tục chạy thoát thân.
Khi L chạy bộ đến trước khu vực số 8, ngõ 1160, đường L, phường L, quận Đ, thành phố H thì bị anh T và người dân bắt giữ, đồng thời đưa L và 02 chiếc điện thoại về trụ sở Công an phường L để trình báo.
Tại cơ quan điều tra, Vi Tuấn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 67/KL-HĐĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản – Ủy ban nhân dân quận Đ, kết luận:
01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu xanh, dung lượng 64gb, số imei: 352843110573109, đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá 7.975.000 đồng
01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu đen, dung lượng 64gb, số imei: 353897103329605 đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá 7.975.000 đồng
Đối với 02 chiếc điện thoại Iphone 11 promax, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Trung T. Do đó, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại 02 chiếc điện thoại trên cho anh T. Hiện anh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 169/CT-VKS ngày 27/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ đã truy tố bị cáo Vi Tuấn L về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đ giữ nguyên quan điểm truy tố nêu trên và đề nghị áp dụng:
Khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự ;
Xử phạt Vi Tuấn L từ 20 đến 24 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì thêm, nên không xét.
Luật sư: Bào chữa cho bị cáo Vi Tuấn L, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ (thành khẩn khai báo, chưa gây thiệt hại, là người dân tộc, hoàn cảnh gia đình khó khăn), đang là sinh viên, có thuê nơi ở, đề nghị Hội đồng xem xét áp dụng điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa các bị cáo
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo là thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng thu được của vụ án. Đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 25/02/2024, tại cửa hàng mua bán điện thoại của anh Nguyễn Trung T (Địa chỉ: số 1166 đường L, phường L, quận Đ, thành phố H), Vi Tuấn L có hành vi cướp giật tài sản là 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu iPhone 11 Promax (một chiếc màu đen và một chiếc màu xanh rêu) của anh Nguyễn Trung T trị giá 15.950.000 đồng thì bị bắt quả tang.
. Hành vi phạm tội của bị cáo Vi Tuấn L là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân chưa tiền án, tiền sự.
Bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo. Nên HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác. Nên Hội đồng xét xử không xét.
Bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Vi Tuấn L phạm tội “Cướp giật tài sản.“
Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự ; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt Vi Tuấn L 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2024.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND thành phố H; - VKSND quận Đ; - Chi cục THA DS quận Đ; - Bị cáo; Bị hại; Luật sư; - L u VP, HS. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Công Xây |