vanban.org

Bản án 172/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Long An Tuyên án 20/12/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Thùy T.

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An. Tuyên bố bị cáo Hà Dương Nhựt K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Dương Nhựt K "Gây rối trật tự công cộng" - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Thùy T.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2024/HS-PT
Ngày: 20-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thu

Bà Hoàng Thị Thúy Lành

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hữu Thái Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa:

Bà Đoàn Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 166/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Hà Dương Nhựt K do có kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thùy T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

- Bị cáo: Hà Dương Nhựt K, sinh năm: 1998, tại: Long An; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 183/4 ấp D, xã V, huyện C, tỉnh Long An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: 080098013763; Tiền án, tiền sự: không; con ông Hà Văn Đ, sinh năm: 1970, và bà Ngô Kim O, sinh năm: 1971.; Vợ: Võ Thị Trung N, SN: 2001, đã đăng ký kết hôn. Có 02 người con, lớn nhất: 2018, nhỏ nhất 2020; Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 06/6/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an T3 (có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có kháng cáo:

Chị Huỳnh Thị Thùy T, sinh năm 1997.

Địa chỉ: số B, T, phường D, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Huỳnh Thị Thùy T: Luật sư Trần Văn C thuộc Văn phòng Luật sư Trần Văn C thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L. (có mặt)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo:

1. Chị Hà Thị Thu H, sinh năm 1998

Địa chỉ: 5 N, phường A, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt)

2. Anh Lê Phước Q, sinh năm 1980

Địa chỉ: I, T, phường C, thành phố T, tỉnh Long An (có mặt)

Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo hoặc không có liên quan đến kháng cáo không triệu tập đến tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 17/3/2024 xảy ra vụ việc mâu thuẫn giữa Hà Thị Thu H và Huỳnh Thị Thùy T (Chủ tiệm Spa). Nguyên nhân mâu thuẩn là do bà Hồ Thanh H1 (mẹ ruột của T) có thiếu tiền hụi của H1 với số tiền 4.800.000 đồng nên T điện thoại gặp H1 tại tiệm S Huỳnh của T để nói chuyện giải quyết vấn đề tiền bạc. H1 được Lê Phước Q (bạn trai của H1) chở đến S Trang H2 gặp T, sau khi gặp mặt giữa H1 và T có xảy ra cự cãi, xô đẩy bên trong tiệm, H1 chạy ra ngoài nói với Q bị T đánh (Q đậu xe ở trước cửa Spa T) Q nghe vậy chở H1 đến hồ con rùa thuộc Phường B, TP ., tỉnh Long An lúc này Q có gọi điện thoại kêu Nguyễn Tấn P đến và P có gọi cho Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Mỹ L và Phạm Hữu T1 đến hồ con rùa. Khi P, M, L và T1 đến gặp Q thì lúc này bị cáo Hà Dương Nhựt K chạy xe mô tô ngang qua thấy có P là người quen đang đứng ở đó nên bị cáo K chạy đến và hỏi P xem xảy ra chuyện gì thì được nghe kể lại chuyện H1 bị người trong Spa Trang H2 đánh. Q kêu các đối tượng M, L, T1 và P cùng đi đến Spa T Huỳnh để nói chuyện tìm hiểu rõ nguyên nhân vì sao T đánh H1. Khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày Q điều khiển xe Vario màu xanh (BKS: 62B1-633.35) chở Hà Thị Thu H, Nguyễn Tấn P điều khiển xe Dream màu xanh (BKS: 59T2-691.42) chở Nguyễn Ngọc M, Nguyễn Mỹ L điều khiển xe Future màu xám (BKS: 59E1-887.81) đi một mình, Phạm Hữu T1 điều khiển xe Wave màu trắng (BKS: 62AA-028.29) đi một mình, bị cáo Hà Dương Nhựt K điều khiển xe Vision màu trắng (BKS: 62F1-296.12) đi một mình theo Q, tất cả đi đến tiệm S Huỳnh với mục đích để tìm T nói chuyện tìm hiểu rõ nguyên nhân vì sao T thiếu tiền hụi mà còn đánh H và giải hòa, khi đi Q, H, P, M, L, T1 không đem theo hung khí và không nhằm mục đích đánh nhau. Khi các đối tượng đến Spa Trang H2, Q bước xuống xe và đi vào tiệm Spa để tìm T nói chuyện, thì bất ngờ bị cáo K từ ngoài cửa tiệm xông vào dùng tay kéo cửa tiệm qua một bên, lúc này bị cáo K thấy có khoảng 05 người đàn ông đang ngồi bên trong Spa T Huỳnh nên tưởng những người này đã đánh Hà Thị Thu H nên bị cáo K dùng tay phải lấy công cụ hỗ trợ giống súng giấu sẵn trong người ra và bắn 01 phát vào trong tiệm Spa thì ngay lập tức Q nắm tay ngăn cản không cho bị cáo K bắn và đẩy bị cáo K ra bên ngoài, các đối tượng đi chung đang đứng bên ngoài thấy vậy thì tiến tới ngăn cản K lại nhưng bị cáo K không chịu dừng lại mà tiếp tục vùng vẫy dùng công cụ hỗ trợ bắn thêm 03 phát nữa vào bên trong tiệm. Sau đó, K lên xe mô tô Vision màu trắng của bị cáo K chạy tẩu thoát trên Quốc lộ A về hướng tỉnh Tiền Giang, bị cáo K vứt bỏ vật sử dụng giống súng vào trong bịt nylon vứt vào thùng rác ven đường, bị cáo K cũng không nhớ rõ chỗ vứt. Sau đó bị cáo K bỏ trốn ở tỉnh Kiên Giang đến ngày 06/6/2024 thì bị cáo K đến Cơ quan Công an trình diện.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo Hà Dương Nhựt K đã khai nhận toàn bộ hành vi gây rối trật tự công cộng phù hợp với lời khai những người liên quan, nội dung camera và tất cả các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tang vật bị thu giữ: 01 (Một) viên đạn vỏ kim loại màu vàng, hình trụ tròn, đầu đạn bằng cao su màu đen đạn cỡ (9 x 22)mm, đít đạn ký hiệu “YAS GLD PAK 9mm”. 04 (Bốn) vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, hình trụ tròn, cỡ đạn (9 x 22)mm, đít đạn ký hiệu “YAS GLD PAK 9mm”. Đối với xe mô tô bị cáo chạy đến tiệm Spa là do bị cáo mượn của một người bạn không rõ nhân thân lai lịch, người này không biết bị cáo mượn xe để đi đâu, bị cáo đã trả xe cho người này.

Bản kết luận giám định số: 224/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T3 kết luận: 01 viên đạn vỏ kim loại màu vàng, hình trụ tròn, đầu đạn bằng cao su màu đen đạn cỡ (9 x 22)mm, đít đạn ký hiệu “YAS GLD PAK 9mm”; 04 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, hình trụ tròn, cỡ đạn (9 x 22)mm, đít đạn ký hiệu “YAS GLD PAK 9mm”, đít đạn có dấu vết kim hoả. Đạn, vỏ đạn gửi giám định không phải là vũ khí quân dụng. Đạn, vỏ đạn gửi giám định là công vụ hỗ trợ, đạn sử dụng cho súng loại công cụ hỗ trợ như súng RG800, RG100, R, RULO… hoặc súng có cỡ nòng tương tự bắn cỡ đạn (9 x 22)mm. Đạn bắn trúng người có thể gây thương tích.

Tại bản cáo trạng số 97/CT-VKSTA-HS ngày 29 tháng 08 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dânThành phố T, tỉnh Long An truy tố các bị cáo Hà Dương Nhựt K, về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An, đã xử: Tuyên bố bị cáo Hà Dương Nhựt K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Dương Nhựt K, 03 (ba) năm tù thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng khác.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thùy T kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Hà Dương Nhựt K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã nêu và xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng tội, không oan. Do mức án Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là phù hợp đối với hành vi của bị cáo gây ra, nên bị cáo không kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Thùy T xác định cấp sơ thẩm không xem xét đến vai trò của bà Hà Thị Thu H và ông Lê Phước Q khi vụ án xảy ra là do ông Q bà H yêu cầu bị cáo K thực hiện, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, yêu cầu xem xét hành vi của bị cáo K có dấu hiệu của tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” nên bà T yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra xét xử lại vụ án.

Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Thủ tục kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Thùy T trong thời gian luật định, những yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.

- Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng quy định pháp luật, không oan cho bị cáo.

Cấp sơ thẩm xác định hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tính tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét và xử phạt bị cáo Hà Dương Nhựt K 03 (ba) năm tù là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, không oan. Bị cáo K không kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên hình phạt như án sơ thẩm đã tuyên.

Xét kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thùy T đề nghị hủy toàn bộ án sơ thẩm là không có căn cứ. Việc yêu cầu xử lý trách nhiệm hình sự đối với Hà Thị Thu H và Lê Phước Q khi có hành vi cùng nhóm người khác đến Spa T Huỳnh để nói chuyện, hòa giải giữa hai bên. H, Q và nhóm người còn lại từ trước đến nay không quen biết K (K chỉ quen biết một mình P), cả nhóm cũng không biết việc bị cáo K mang theo công cụ hỗ trợ trong người, K cũng không nói cho ai biết việc K có mang theo công cụ hỗ trợ. Khi bị cáo K lấy công cụ hỗ trợ trong người ra và bắn 01 phát vào trong tiệm thì Q có hành vi can ngăn và cùng một số người kéo K ra ngoài, tại phiên tòa sơ thẩm chị T cũng khẳng định lời trình bày trên là đúng nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Thị Thùy T.

Việc Huỳnh Thị Thu T2 cho rằng Hà Dương Nhựt K sử dụng súng bắn vào tiệm S có dấu hiệu tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” là không có căn cứ. Căn cứ Bản kết luận giám định số 224/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T3 kết luận: 01 viên đạn vỏ kim loại màu vàng, hình trụ tròn, đầu đạn bằng cao su màu đen đạn cỡ (9 x 22)mm, đít đạn ký hiệu “YAS GLD PAK 9mm”; 04 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, hình trụ tròn, cỡ đạn (9 x 22)mm, đít đạn ký hiệu “YAS GLD PAK 9mm”, đít đạn có dấu vết kim hoả. Đạn, vỏ đạn gửi giám định không phải là vũ khí quân dụng.

Do đó đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bồ sung 2021, không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Thùy T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An đã tuyên.

Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Huỳnh Thị Thùy T trình bày: Hành vi phạm tội của bị cáo K bị Tòa sơ thẩm xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” là đúng tội đúng pháp luật, luật sư không tranh luận. Tuy nhiên việc xử lý bị cáo K không xử lý những người khác là chưa phù hợp, có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm là Hà Thị Thu H và Lê Minh Q1. Bị cáo K thực hiện hành vi dùng súng bắn gây nguy hiểm đến sức khỏe, đe dọa tính mạng của chị T, có dấu hiệu của tội “Giết người” nhưng cấp sơ thẩm chỉ xem xét hành vi của K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” là chưa thỏa đáng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại nhằm đảm bảo quyền lợi cho chị Thùy T.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giữ nguyên hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong thời hạn pháp luật quy định, yêu cầu kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật nên Tòa án nhân tỉnh Long An thụ lý xét xử theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm thống nhất với lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 10 phút, ngày 17/3/2024, tại tiệm S Huỳnh của chị Huỳnh Thị Thùy T, địa chỉ: Số B đường T, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An, bị cáo Hà Dương Nhựt K mặc dù không có mâu thuẫn với chị T nhưng với bản tính côn đồ, hung hãn đã dùng hung khí là công cụ hỗ trợ bắn 04 phát đạn vào tiệm Spa Trang H2, mặc dù hành vi trên không gây thương tích và thiệt hại tài sản nhưng gây ra tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân trên địa bàn. Như vậy hành vi của bị cáo Hà Dương Nhựt K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng quy định pháp luật, không oan.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù là có căn cứ. Bị cáo K không kháng cáo nên giữ nguyên hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên cho bị cáo như lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Xét kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Thùy T:

Chị T cho rằng cấp sơ thẩm có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội của Hà Thị Thu H và Lê Phước Q là không có căn cứ. Bởi vì nguyên nhân xảy ra sự việc là do chị Huỳnh Thị Thùy T là người điện thoại yêu cầu chị Thu H đến tiệm S để T trả tiền (do mẹ T nợ H), nhưng khi H đến, T không trả tiền mà còn có lời lẽ qua lại cự cãi, xô sát với H. Việc Lê Phước Q cùng nhóm người đến tiệm Spa Trang H2 với mục đích nói chuyện hòa giải, không có mục đích đánh nhau, cũng không ai mang theo công cụ hay hung khí gì. Việc K tự đến và có hành vi dùng súng là công cụ hỗ trợ bắn một phát vào tiệm Spa, ngay khi đó thì Q lập tức cùng nhóm người can ngăn và kéo K ra ngoài. Chị T cũng khẳng định lời trình bày trên là đúng nên không có căn cứ xem xét kháng cáo của chị T như lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Việc Huỳnh Thị Thùy T cho rằng Hà Dương Nhựt K sử dụng súng bắn vào tiệm S có dấu hiệu tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” là không có căn cứ. Căn cứ Bản kết luận giám định số 224/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T3 kết luận: 01 viên đạn vỏ kim loại màu vàng, hình trụ tròn, đầu đạn bằng cao su màu đen đạn cỡ (9 x 22)mm, đít đạn ký hiệu “YAS GLD PAK 9mm”; 04 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, hình trụ tròn, cỡ đạn (9 x 22)mm, đít đạn ký hiệu “YAS GLD PAK 9mm”, đít đạn có dấu vết kim hoả. Đạn, vỏ đạn gửi giám định không phải là vũ khí quân dụng.

Xét lời trình bày của luật sư bảo vệ cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Thùy T là không có căn cứ. Do đó không chấp nhận kháng cáo của bà Huỳnh Thị Thùy T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An như lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Hà Dương Nhựt K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Thùy T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bồ sung 2021

Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Thùy T.

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 95/2024/HS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Tuyên bố bị cáo Hà Dương Nhựt K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52 Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.

Áp dụng Điều 347 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tiếp tục tạm giam bị cáo Hà Dương Nhựt K 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (20/12/2024) để đảm bảo cho việc thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Hà Dương Nhựt K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị Thùy T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các khoản khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật sau khi hết thời gian kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ