- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hoàn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU ———————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 172/2023/HSST Ngày 11-07-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thúy Hảo
Ông Hồ Sĩ Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Thơ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 07 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 157/2023/HSST ngày 01 tháng 06 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 183/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 06 năm 2023, đối với bị cáo:
Trần Hoàn V, sinh ngày 21-01-1991 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; giới tính: Nam; Nơi thường trú: Số A C, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi ở: không xác định; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hồng S và bà Nguyễn Thị Thanh V1; vợ Trần Thị Cẩm T; có một con sinh năm 2018; Tiền sự - Tiền án: không; Bị bắt ngày 18 tháng 03 năm 2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bị cáo có mặt).
Bị hại: Chị Lê Thị Lam T1, sinh năm 1997 – Địa chỉ: Số I C, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Hồng S, sinh năm 1961- Địa chỉ: Số A C, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18-03-2023, Trần Hoàn V đi bộ trên các tuyến đường thành phố V. Khi đi đến trước số nhà I C, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì thấy cổng mở, bên trong sân dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM JOYRIDE, biển số 72K1-113.77 của chị Lê Thị Lam T1, trên ổ khóa còn gắn chìa khóa nên V nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. V lén lút đi vào dắt xe ra cổng rồi nổ máy tẩu thoát rồi chạy xe về nhà tại số A C, phường H, thành phố V. V tháo gương, bóc tem sườn xe nhằm tránh bị phát hiện.
Khoảng 13 giờ cùng ngày, V điều khiển xe đến quán I trên đường N, phường G, thành phố V đăng nhập vào tài khoản Facebook “Trần V” và đăng bán chiếc xe có đặc điểm trên tại trang mạng “Dân Long Sơn 72” để kiếm tiền tiêu xài. Khoảng 16 giờ cùng ngày, chị T1 sử dụng điện thoại vào trang mạng “Dân Long Sơn 72" thấy đăng bài bán xe JOYRIDE. Chị T1 nghi ngờ là xe mô tô của mình nên chị đã dùng tài khoản Facebook “T1 Lê” nhắn tin cho tài khoản đăng “Trần V” với nội dung “có nhu cầu mua lại chiếc xe trên”. Qua trao đổi V đồng ý bán xe với giá 3.500.000 đồng và hẹn 30 phút sau giao xe tại chung cư M. Chị T1 trình báo vụ việc tại Cơ quan điều tra và bắt giữ V cùng vật chứng.
Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐG-TTHS ngày 20-03-2023 của Hội đồng định giá kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu SYM JOYRIDE, biển số 72K1-113.77 trị giá 2.700.000 đồng.
Tại Cơ quan Công an, Trần Hoàn V đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Bản cáo trạng số 155/CT-VKS ngày 25-05-2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Trần Hoàn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố V và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo xác định vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18-03-2023, tại địa chỉ số I C, Phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô biển số 72K1 - 113.77 trị giá 2.700.000 đồng của người bị hại.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và bị hại, phù hợp với kết quả định giá và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Vì vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Nên cần xử phạt bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị hại xác định đã nhận lại xe mô tô biển số 72K-113.77, không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Hoàn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Trần Hoàn V 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 03 năm 2023.
3. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( PV06); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND TP. Vũng Tàu; - Công an TP. Vũng Tàu; - Thi hành án dân sự TP. Vũng Tàu; - Nhà tạm giữ Công an TP. Vũng Tàu; - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thanh Hảo |