vanban.org

Bản án 172/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c các Đi u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm

2014; các Đi u 144, 147, 227, 228, 273 Bộ lu t T tụng dân s năm 2015; đi m a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban th ờng vụ qu c hội quy định v m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Căn c các Đi u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 172/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 7 - 2023
“V/v tranh chấp hôn nhân và gia
đình ly hôn, tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Bé;

2. Ông Võ Lâm Sơn.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Anh Tuấn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 255/2023/TLST-

HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023 về việc “tranh chấp hôn nhân và gia đình ly

hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

278/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên

tòa số 425/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đào Thị M, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C,

tỉnh A; địa chỉ liên lạc: tổ 03, ấp Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Phước, huyện Tri Tôn, tỉnh

An Giang; có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C,

tỉnh A; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ

án, nguyên đơn bà Đào Thị M trình bày, do tự tìm hiểu, bà M và ông P kết hôn

vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang vào ngày 12/3/2013. Trong thời gian chung sống, vợ chồng có sinh 02 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 05/3/2012; Nguyễn Văn K, sinh ngày 06/5/2017. Hiện tại, 02 con chung đang được bà M nuôi dưỡng.

Thời gian chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu

thuẫn, nguyên nhân là do nguyên nhân là do ông P không lo làm ăn, cờ bạc, số đề, thiếu nợ nhiều người, tài sản trong gia đình ông P đem bán hết, bà M có khuyên nhiều lần nhưng không được, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ đầu năm 2023 đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông

P; yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi dạy con chung. Về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu

cầu khởi kiện: Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2013, quyển số 01/2013, ngày 12/3/2013 do Ủy ban nhân dân xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Văn P và bà Đào Thị M (bản chính); giấy khai sinh số 408 ngày 03/10/2010 do Ủy ban nhân dân xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho Nguyễn Gia B (bản sao); giấy khai sinh số 160 ngày 25/5/2017 do Ủy ban nhân dân xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho Nguyễn Văn K (bản sao).

- Bị đơn ông Nguyễn Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn

vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

- Nguyên đơn trình bày ý kiến, yêu cầu như đã cung cấp trong giai đoạn

chuẩn bị xét xử và xác định không còn tài liệu, chứng cứ nào Kc để cung cấp thêm.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án

trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn

đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, bà M và ông P kết hôn, có

đăng ký kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông P hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và B vệ. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do ông P không lo làm ăn, cờ bạc, số đề, thiếu nợ nhiều người,

tài sản trong gia đình ông P đem bán hết, bà M có khuyên nhiều lần nhưng

không được và không còn sống chung từ đầu năm 2023 đến nay.

Do tình cảm vợ chồng không còn nên bà M yêu cầu ly hôn với ông P. Bà

M, ông P không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm. Do đó, đề nghị Hội

đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M đối với ông P theo Điều 56 Luật

Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung, đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà M, giao 02 con chung

cho bà M tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con, do bà M không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi 02

con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật

Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M đối với ông P; bà M

được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung; ông P không phải cấp dưỡng

nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Bà Đào Thị M khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn P. Đồng

thời, ông P cư trú trên địa bàn huyện Chợ Mới. Xét đây là tranh chấp về hôn

nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a

khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Văn P đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng

vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông P theo quy định

tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về hôn nhân:

Bà M và ông P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định

của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà M và ông P là hợp pháp, được pháp

luật thừa nhận và B vệ.

Bà M xác định, trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên mâu

thuẫn, cãi vã do do bất đồng quan điểm, ông P không lo làm ăn, cờ bạc, số đề,

thiếu nợ nhiều người, tài sản trong gia đình ông P đem bán hết, bà M có khuyên

nhiều lần nhưng không được và không còn sống chung từ đầu năm 2023 đến

nay.

Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống, bà M và ông

P không còn sống chung từ đầu năm 2023 đến nay. Vợ chồng không quan tâm,

chăm sóc lẫn nhau. Bên cạnh đó, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ

án cho ông P nhưng ông P không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của bà M. Cho nên, có căn cứ xác định mâu thuẫn giữa bà M, ông P là trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà M đối với ông P theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà M xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng

có sinh 02 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 05/3/2012; Nguyễn Văn K, sinh ngày 06/5/2017, hiện 02 con chung đang sinh sống với bà M, bà M yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung.

Xét thấy, 02 con chung đang được bà M chăm sóc, nuôi dưỡng, phát triển

ổn định. Do đó, để đảm B ổn định cuộc sống cho con chung, giúp các cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Đồng thời, theo biên bản ghi ý kiến ngày 19/5/2023 do cán bộ Tòa án lập, cháu B đã có nguyện vọng sống chung với mẹ (bà M) khi cha mẹ ly hôn. Cháu K còn nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ, do đó Hội đồng xét xử giao 02 con chung cho bà M được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng theo Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con chung, do bà M không yêu cầu ông P cấp dưỡng

nuôi dạy 02 con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà M xác định không yêu cầu Tòa án

xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà M phải chịu án phí hôn nhân sơ

thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng

xét xử xem xét chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c các Đi u 56, 58, 81, 82, 83, 84 Lu t Hôn nhân và Gia đình năm

2014; các Đi u 144, 147, 227, 228, 273 Bộ lu t T tụng dân s năm 2015; đi m a khoản 5 Đi u 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban th ờng vụ qu c hội quy định v m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị M.

1. Về hôn nhân: Bà Đào Thị M được ly hôn với ông Nguyễn Văn P.

Giấy chứng nhận kết hôn số 42/2013, quyển số 01/2013, ngày 12/3/2013

do Ủy ban nhân dân xã Long Điền B, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Văn P và bà Đào Thị M không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Bà Đào Thị M được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung

tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 05/3/2012; Nguyễn Văn K, sinh ngày 06/5/2017.

Ông Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi dạy con chung.

Bà Đào Thị M cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở

ông Nguyễn Văn P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con

chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có

thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc

cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Bà Đào Thị M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm

300.000 (ba trăm nghìn) đ ng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000

(ba trăm nghìn) đ ng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số

0013512 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp

ngày 24 tháng 4 năm 2023; bà Đào Thị M đã nộp đủ án phí.

Ông Nguyễn Văn P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Đào Thị M có quyền Kng

cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn Kng cáo của ông Nguyễn Văn P được tính là 15 ngày kể từ

ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Tr ờng hợp bản án, quyết định đ ợc thi hành theo quy định tại Đi u 2

Lu t Thi hành án dân s thì ng ời đ ợc thi hành án dân s , ng ời phải thi hành

án dân s có quy n thoả thu n thi hành án, quy n yêu cầu thi hành án, t

nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các Đi u 6,

7 và 9 Lu t thi hành án dân s ; Thời hiệu thi hành án đ ợc th c hiện theo quy

định tại Đi u 30 Lu t thi hành án dân s .

Cỡ chữ