vanban.org

Bản án 172/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Không công nhận chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn L là Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng Khoa sinh ngày 05/3/2013 cho Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị H - Nguyễn Văn L"
  • Tòa quyết gì? 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 7 - 2023
V/v Xin ly hôn và nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Võ Tấn Liêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh

Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 221/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2023 về việc tranh chấp“Xin ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:127/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị H, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Khóm N, thị t, huyện C, tỉnh C ..

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện C, tỉnh C ..

Tại phiên tòa, nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 12/4/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn là chị

Phan Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn L tự nguyện sống chung như vợ

chồng từ năm 2001 nhưng không có đăng ký kết hôn. Hôn nhân ban đầu hạnh phúc, nhưng đến năm 2014 thì vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi, mặc dù hai bên gia đình có hàn gắn nhưng không có kết quả. Nguyên nhân là do anh L ham mê cờ bạc, không chăm lo cuộc sống gia đình. Chị và anh L đã ly thân từ đó cho đến nay. Nay xét thấy hôn nhân giữa chị và anh L không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh L có 02 người con chung

tên: Nguyễn Thanh Kiều, sinh ngày 15/7/2002 và Nguyễn Trọng Khoa, sinh ngày 05/3/2013 đang sống cùng chị. Sau khi ly hôn, cháu Kiều đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; Đối với cháu Khoa chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Khoa, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Phan Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không trình

bày bổ sung gì thêm.

* Bị đơn là anh Nguyễn Văn L được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng

nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại

phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn L là tranh chấp hôn

nhân và gia đình về việc“Xin ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; anh Nguyễn Văn L có địa chỉ cư trú tại ấp Cái Chim, xã Trần Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn L

đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh L là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn L tự nguyện kết hôn

vào năm 2001 nhưng không có đăng ký kết hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị chưa tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống anh chị có đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình không công nhận chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn L là vợ chồng.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị H và anh L có 02 người con

chung tên Nguyễn Thanh Kiều, sinh ngày 15/7/2002 và Nguyễn Trọng Khoa, sinh ngày 05/3/2013 đang sống cùng chị H. Sau khi ly hôn, cháu Kiều đã trưởng thành nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết; Đối với cháu Khoa chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Khoa, chị không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, cháu Kiều đã trưởng thành, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết

nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với cháu Nguyễn Trọng Khoa sinh ngày 05/3/2013 thì theo quy định của

pháp luật thì:“Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên…”; “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con…” và theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình:“... con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Tại phiên tòa, chị H xác định từ khi ly thân với anh L thì chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Khoa. Tại phiên tòa, chị H xác định chị đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu Khoa tròn 18 tuổi. Hiện tại, cháu Khoa đã được 10 tuổi, căn cứ vào biên bản ghi nhận ý kiến của của cháu Khoa ngày 28/6/2023 thì cháu Khoa xác định sau khi chị H và anh L ly hôn, cháu có nguyện vọng sống cùng mẹ là chị Phan Thị H. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng để không gây xáo trộn cho cuộc sống của cháu và theo nguyện vọng của cháu Khoa, cần tiếp tục giao cháu cho chị H được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh L không trực tiếp nuôi con, nhưng có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không

đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung, nợ riêng:

Về tài sản chung: Chị H xác định chị và anh L tự thỏa thuận, không yêu cầu

Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung, nợ riêng: Chị H xác định chị và anh L không có, không yêu

cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phan Thị H phải chịu án

phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều

39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 9, 14, 53, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận chị Phan Thị H và anh Nguyễn Văn L là

vợ chồng.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng Khoa sinh ngày 05/3/2013 cho

chị H được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Khoa đủ 18 tuổi; anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh L không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con

chung mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phan Thị H phải nộp

300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 12 tháng 4 năm 2023 chị H có dự nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0009034 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

6. Về quyền kháng cáo: chị H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ