vanban.org

Bản án 172/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Kỷ Thị Linh kiện tranh chấp hợp đồng góp hụi"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ MỸ
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2023/DS-ST
Ngày 12-12-2023.
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Tiến Dũng;

2. Ông Nguyễn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Dư là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân huyê ̣n Phù Mỹ , tỉnh Bình Định tham gia phiên tò a: Ông Đinh Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ xét xử sơ thẩm công khai vu ̣ án thu ̣ lý số : 99/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” , theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số: 2287/2023/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Kỷ Thị L, sinh năm: 1987. (có mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

2. Bị đơn:

2.1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

2.2. Anh Nguyễn Văn C, sinh năm: 1979; địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn anh Nguyễn Văn C: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1988; địa chỉ: Thôn V, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Theo Hợp đồng uỷ quyền lập ngày 30/6/2023). (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khở i kiện đề ngày 04 tháng 5 năm 2023, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Kỷ Thị L trình bày:

Giữa chị Kỷ Thị L và vợ chồng chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn C có mối quan hệ quen biết và là người cùng ở địa phương.

Khoảng tháng 5 năm 2020, chị Nguyễn Thị H đứng ra tổ chức chơi hụi, chị L là người tham gia góp hụi. Trong thời gian chị L góp hụi nhưng chưa được lĩnh hụi thì chị Nguyễn Thị H không tiếp tục tổ chức chơi hụi và cũng không trả lại số tiền góp hụi cho chị L. Đến ngày 07/3/2022, chị L và vợ chồng chị H, anh C đối chiếu thì vợ chồng chị H, anh C còn nợ của chị L số tiền góp hụi là 167.000.000 đồng, nên vợ chồng chị H, anh C viết giấy mượn tiền ngày 07/3/2022, thời hạn trả nợ là 06 tháng. Từ ngày 07/3/2022 đến nay vợ chồng chị H, anh C đã trả được số tiền 18.000.000 đồng, còn nợ số tiền 149.000.000 đồng. Chị L yêu cầu vợ chồng chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn C trả số tiền 149.000.000 (Một trăm bốn mươi chín triệu) đồng và không yêu cầu tính lãi suất.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 25 tháng 10 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị H và cũng là người đai diện của bị đơn anh Nguyễn Văn C trình bày:

Vào năm 2020, chị H có đứng ra tổ chức chơi hụi, chị L là thành viên góp hụi. Sau một thời gian chơi hụi thì chị H không tiếp tục tổ chức chơi hụi và cũng không chi trả tiền góp hụi cho chị L. Vào ngày 07/3/2022, các bên đối chiếu số tiền chị L góp hụi với chị H, nên vợ chồng chị H, anh C viết giấy mượn của chị L số tiền 167.000.000 đồng.

Chị H xác định chữ viết, chữ ký trong “giấy mượn tiền ngày 07/3/2022” do chị L cung cấp cho Toà án là chữ viết, chữ ký của chị H; chữ ký “Nguyễn Văn C” là của chồng chị H (anh Nguyễn Văn C) ký, việc viết giấy mượn tiền và ký vào giấy mượn tiền là hoàn toàn tự nguyện.

Từ ngày 07/3/2022 đến nay vợ chồng chị H đã trả được cho chị L số tiền 18.000.000 đồng. Hiện nay, vợ chồng chị H, anh C còn nợ của chị L số tiền góp hụi là 149.000.000 (Một trăm bốn mươi chín triệu) đồng. Chị H đồng ý vợ chồng trả số tiền còn nợ trên cho chị L nhưng do điều kiện khó khăn xin trả dần mỗi tháng số tiền 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Kỷ Thị L giữ nguyên ý kiến, yêu cầu nói trên;

Bị đơn chị Nguyễn Thị H và cũng là người đại diện của bị đơn anh Nguyễn Văn C vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” và bị đơn cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các điều 274, 278, 280, 471 của Bộ luật dân sự 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Kỷ Thị L, buộc vợ chồng chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn C có nghĩa vụ trả cho chị Kỷ Thị L số tiền 149.000.000 (Một trăm bốn mươi chín triệu) đồng. Chị L không yêu cầu tính lãi, nên không xét. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứ u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa , ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đi ̣nh:

Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vu ̣ kiện “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” và người bị kiện cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định. Do đó , căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự thì vu ̣ kiện thuô ̣c thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn chị Nguyễn Thị H và cũng là người đại diện của bị đơn anh Nguyễn Văn C được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về yêu cầu khởi kiện của chị Kỷ Thị L: Căn cứ vào các lờ i khai của chị Kỷ Thị L và vợ chồng chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn C cùng với tài liệu, chứ ng cứ là giấy mượn tiền lập ngày 07/3/2022 do chị Kỷ Thị L đã cung cấp, có cơ sở xác đi ̣nh:

Giữa chị Kỷ Thị L và vợ chồng chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn C có mối quan hệ quen biết và là người cùng ở địa phương.

Quá trình giải quyết vụ án chị Kỷ Thị L và chị Nguyễn Thị H xác định thống nhất: Khoảng tháng 5/2020, chị Nguyễn Thị H đứng ra tổ chức chơi hụi, chị L là thành viên góp hụi. Sau khi đứng ra tổ chức chơi hụi được một thời gian thì chị H không tiếp tục tổ chức chơi hụi và cũng không chi trả số tiền chị L đã góp hụi. Ngày 07/3/2022, chị H và chị L đã đối chiếu số tiền chị L góp hụi và vợ chồng chị H, anh C xác định còn nợ tiền góp hụi của chị L 167.000.000 đồng, nên vợ chồng chị H, anh C viết giấy mượn tiền. Đến nay vợ chồng chị H, anh C đã trả cho chị L được số tiền 18.000.000 đồng, còn nợ số tiền 149.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định: Hiện nay, vợ chồng chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C nợ tiền góp hụi của chị Kỷ Thị L là 149.000.000 đồng.

Về yêu cầu trả nợ của chị Kỷ Thị L: Chị Kỷ Thị L yêu cầu vợ chồng chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn C trả số tiền 149.000.000 đồng. Chị H đồng ý trả số tiền 149.000.000 đồng cho chị L nhưng xin trả dần cho đến khi hết nợ. Việc yêu cầu trả dần của vợ chồng chị H không được chị L chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử buộc vợ chồng chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn C có nghĩa vụ trả cho chị Kỷ Thị L số tiền 149.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại các điều 29, 30 Luật Hôn nhân và Gia đình; các điều 16, 17, 23, 25 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 của Chính phủ quy định về hụi, họ, biêu, phường; Điều 471 Bộ luật Dân sự.

Về tính lãi suất: Chị Kỷ Thị L không yêu cầu tính lãi, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Về đề nghị hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy đi ̣nh tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng Nghi ̣ Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườ ng vụ Quốc hội. Buộc chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C phải chịu 7.450.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị Kỷ Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật tố tu ̣ng dân sự . Các điều 29, 30 của Luật Hôn nhân và gia đình. Các điều 357, 468, 471 Bộ luật Dân sự 2015. Khoản 2 Điều 26 của Nghi ̣ quyết số : 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vu ̣ Quốc hội quy đi ̣nh về mức thu , miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử du ̣ng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

1. Chấp nhận yêu cầu khở i kiện của chị Kỷ Thị L.

Buộc chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C có nghĩa vụ trả cho chị Kỷ Thị L số tiền 149.000.000 (Một trăm bốn mươi chín triệu) đồng.

2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

3.1. Buộc chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Văn C phải chi ̣u 7.450.000 (Bảy triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3.2. Chị Kỷ Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả 3.725.000 (Ba triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí cho chị Kỷ Thị L đã nộp theo biên lai thu tiền số: AA-2021/0009344 ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Chị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị H, anh C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ