vanban.org

Bản án 172/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 31/07/2023 Dân sự Sơ thẩm
Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn mà chị Nh, anh Tr phải thanh toán cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày 31/7/2023, thì kể từ ngày 01/8/2023 chị Nh, anh Tr còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng C-Nguyễn Kiều Nh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2023/DS-ST
Ngày 31 - 7 - 2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Liêu Chí Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiển.

Ông Tạ Thanh Bự.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Kim Thia là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên tòa: Ông Dương Tấn Viễn – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 323/2023/TLST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 214/2023/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng. Địa chỉ: Số 169, L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Dương Quyết Th, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Mai Quốc V, chức vụ: Quyền giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng. Địa chỉ trụ sở: Kh, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau “văn bản ủy quyền ngày 19 tháng 9 năm 2019”.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Mai Quốc V: Ông Trần Ngọc T, chức vụ: Phó Giám đốc (theo văn bản ủy quyền ngày 03/7/2023).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Kiều Nh, sinh năm 1971; địa chỉ cư trú: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Minh Tr, sinh năm 1960; địa chỉ cư trú: Ấp M, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Ông Trần Ngọc Tâm trình bày: Năm 2018, 2019 vợ chồng chị Nguyễn Kiều Nh và anh Lê Minh Tr vay của Ngân hàng thông qua Phòng giao dịch Ngân hàng hai khoản, cụ thể:

Ngày 23/5/2018 vay 40.000.000 đồng, lãi suất 8,25%, lãi nợ quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, thời hạn trả 07/5/2023, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần; vay theo chương trình hộ mới thoát nghèo để thực hiện phương án nuôi trồng thủy sản. Đến nay không trả vốn, chỉ trả lãi 2.840.025 đồng.

Ngày 24/4/2019 vay 33.000.000 đồng, lãi suất 7,92%, lãi nợ quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn, thời hạn trả 07/4/2024, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần; vay từ nguồn vốn Quỹ quốc gia về việc làm để thực hiện phương án nuôi trồng thủy sản. Đến nay không trả vốn, chỉ trả lãi 2.133.665 đồng.

Từ khi vay đến nay vợ chồng chị Nh, anh Tr không trả vốn theo phân kỳ, chỉ trả một phần lãi, đến ngày xét xử còn nợ tiền lãi 20.463.000 đồng, mặc dù Ngân hàng yêu cầu thanh toán nhiều lần nhưng chị Nh, anh Tr không thực hiện. Do vậy Ngân hàng yêu cầu chị Nh, anh Tr trả tiền gốc của hai khoản vay là 73.000.000 đồng và tiền lãi đến ngày xét xử là 20.463.000 đồng.

- Chị Nguyễn Kiều Nh và anh Lê Minh Tr trình bày: Anh, chị thừa nhận có vay của Phòng giao dịch Ngân hàng hai khoản vay như đại diện nguyên đơn trình bày. Tuy nhiên do điều kiện kinh tế khó khăn nên vợ chồng anh, chị chưa trả vốn, chỉ trả một phần lãi. Nay yêu cầu được trả lãi hàng tháng 500.000 đồng.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc chị Nh, anh Tr có nghĩa vụ liên đới trả vốn, lãi là 93.463.000 đồng và chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh Lê Minh Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, thấy rằng: Theo hai khế ước vay vốn mà chị Nh, anh Tr thỏa thuận ký kết với Ngân hàng thì chị Nhi, anh Tr được Ngân hàng giải ngân số tiền vốn 73.000.000 đồng, quá trình thực hiện hợp đồng, dù đã quá thời hạn trả nợ nhưng chị Nh, anh Tr không trả vốn, chỉ trả một phần lãi. Hành vi này là vi phạm nghĩa vụ cam kết với Ngân hàng, do vậy Ngân hàng khởi kiện là có căn cứ. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm chị Nh, anh Tr còn nợ lại Ngân hàng số tiền vốn là 73.000.000 đồng và lãi là 20.463.000 đồng, nên buộc chị Nh, anh Tr có trách nhiệm trả số tiền vốn, lãi trên là phù hợp Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nh, anh Tr phải liên đới chịu 5% tương ứng với số tiền phải trả cho Ngân hàng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Buộc chị Nguyễn Kiều Nh và anh Lê Minh Tr có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng tính đến ngày 31/7/2023 là 93.463.000 đồng (chín mươi ba triệu bốn trăm sáu mươi ba nghìn đồng), trong đó tiền vốn là 73.000.000 đồng và tiền lãi là 20.463.000.000 đồng.

Ngoài khoản tiền nợ gốc, lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn mà chị Nh, anh Tr phải thanh toán cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày 31/7/2023, thì kể từ ngày 01/8/2023 chị Nh, anh Tr còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Tr hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất mà chị Nh, anh Tr phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Kiều Nh và anh Lê Minh Tr liên đới chịu là 4.673.150 đồng (bốn triệu sáu trăm bảy mươi ba nghìn một trăm năm mươi đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngân hàng, chị Nh có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Tr có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Cỡ chữ