vanban.org

Bản án 172/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trịnh Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Xử phạt bị cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuyên bố bị cáo Trịnh Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trịnh Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN P
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2022/HSST
Ngày : 26/9/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Đình Thức;

2/ Ông Trần Công Trung;

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Tường Vi là Thư ký Tòa án nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Linh là Kiểm sát viên;

Hôm nay, ngày 26 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 49/2022/HSST ngày 29 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: TRỊNH QUỐC H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1999 tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường S, phường H, quận P, thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: đường S, phường H, quận P, thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Con ông Trịnh Đình H, sinh năm 1969 và bà Đặng Thị H, sinh năm 1969; Nhân thân: Ngày 10/3/2022 bị Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu “Công an nhân dân”; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/5/2022;

(bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: anh Đặng Xuân T, sinh năm 1975 trú tại đường L, phường T, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh;

(anh T vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Quốc H là chiến sĩ nghĩa vụ làm nhiệm vụ Cảnh sát bảo vệ thuộc Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an quận P. Khoảng đầu tháng 6/2021, do cần tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định trộm cắp phụ tùng của các xe gắn máy trong kho vật chứng Công an quận P số đường B, phường Q, quận P do anh Đặng Xuân T quản lý để bán lấy tiền tiêu xài. Trong thời gian từ tháng 6/2021 đến ngày 24/10/2021 H đã 05 lần trộm cắp tài sản cụ thể như sau:

- Lần thứ 1: Khoảng đầu tháng 6/2021, H trộm cắp 01 (một) lốc máy của xe gắn máy, số máy: S94 – 0169xx kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, bình ắc quy, pô xe của xe gắn máy biển số 54S1 – 10xx.

- Lần thứ 2: Khoảng 13 giờ ngày 04/10/2021, H trộm cắp 01 (một) lốc máy (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe của xe gắn máy biển số 55Y1- 23xx.

- Lần thứ 3: Khoảng 13 giờ ngày 22/10/2021, H trộm cắp 01 (một) lốc máy (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, bình ắc quy, pô xe, heo dầu thắng đĩa của xe gắn biển số 63P3 - 422xx.

- Lần thứ 4: Khoảng 14 giờ ngày 23/10/2021, H tiếp tục trộm cắp 01 (một) lốc máy của xe gắn máy số máy: 55P1 – 0284xx kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe của xe gắn máy biển số 59C1- 281xx.

- Lần thứ 5: Khoảng 12 giờ ngày 24/10/2021, H tiếp tục trộm cắp 01 (một) lốc máy của xe gắn máy số máy: IS920116xx kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe, bình ắc quy của xe gắn máy biển số 54H2 – 44xx; 01 pô xe gắn máy, bình xăng con, tản nhiệt, IC của xe gắn máy biển số 52P7-57xx. Sau khi trộm cắp lốc máy và các phụ tùng của xe gắn máy biển số 52P7 - 57xx do xe này để ở khu vực gần lối đi nhà vệ sinh. Do sợ bị kiểm tra phát hiện nên H đã tháo cục máy xe gắn máy Yamaha Exciter BS: 52P7- 57xx gắn vào xe gắn máy Yamaha Exciter biển số 54H2- 44xx.

Sau khi trộm được các tài sản trên, H bán cho Trần K (chưa rõ lai lịch) với giá 2.000.000 đồng/1 bộ. Tổng số tiền H bán các phụ tùng trộm được là 10.000.000 đồng và đã tiêu xài hết. Đến ngày 01/11/2021, đồng chí Đặng Xuân T, Thủ kho vật chứng Công an quận P kiểm tra vật chứng (xe gắn máy) phát hiện bị mất trộm một số bộ phận phụ tùng của các xe gắn máy là vật chứng trong các vụ án do Cơ quan CSĐT Công an quận P thụ lý nên đã trình báo vụ việc đến Cơ quan CSĐT Công an quận P.

Tại cơ quan điều tra, Trịnh Quốc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, sau khi sự việc bị phát hiện H đã liên lạc với Trần K để chuộc lại số tài sản đã trộm cắp trên và giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh;

Theo bản kết luận định giá số 43/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 14/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận P kết luận:

- 01 lốc máy của xe gắn máy số máy: S94-0169xx kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, bình ắc quy, pô xe của xe gắn máy biển số 54S1-10xx trị giá 3.300.000 đồng;

- 01 lốc máy số máy 5P710022xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe của xe gắn máy biển số 55Y1- 23xx trị giá 1.100.000 đồng;

- 01 lốc máy số máy: G34DE – 0236xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, bình ắc quy, pô xe, heo dầu thắng đĩa của xe gắn máy biển số 63P3 – 422xx trị giá 1.400.000 đồng;

- 01 lốc máy của xe gắn máy số máy: 55P1- 0284xx kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe của xe gắn máy biển số 59C1 - 281xx trị giá 3.200.000 đồng;

- 01 lốc máy của xe gắn máy số máy: IS920116xx kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe, bình ắc quy của xe gắn máy biển số 54H2 – 44xx trị giá 3.300.000 đồng;

- 01 pô xe gắn máy, bình xăng con, tản nhiệt, IC của xe gắn máy biển số 52P7-57xx trị giá 700.000 đồng;

* Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Trịnh Quốc H:

+ Một (01) cây siết ốc bằng kim loại hình chữ L, dài 32 cm; một (01) cây khóa vòng bằng kim loại dài 26 cm; một (01) cây khóa vòng bằng kim loại dài 22 cm; hai (02) cây cờ lê bằng kim loại dài 18 cm; một (01) cây cờ lê bằng kim loại dùng để vặn ốc xe dài 17 cm; một (01) cây cờ lê bằng kim loại dùng để vặn ốc xe dài 13 cm; một (01) cây cần siết bằng kim loại dài 15 cm; một (01) cây lục giác bằng kim loại hình chữ L dài 7 cm; hai (02) đầu kim loại hình tròn một đầu dài 2 cm, một đầu dài 2,5 cm. H dùng làm công cụ trộm cắp các phụ tùng xe gắn máy tại kho vật chứng;

+ Một (01) lốc máy của xe gắn máy số máy: IS920116xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe, bình ắc quy của xe gắn máy biển số 52P7 – 57xx; một (01) lốc máy của xe gắn máy số máy: S94-0169xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, bình ắc quy, pô xe của xe gắn máy biển số 54S1 – 10xx; một (01) lốc máy số máy: 5P71-0022xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe của xe gắn máy biển số 55Y1 – 23xx; một (01) lốc máy của xe gắn máy số máy: 55P1- 0284xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe của xe gắn máy biển số 59C1 – 281xx; một (01) lốc máy số máy: G34DE- 0236xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, bình ắc quy, pô xe, heo dầu thắng đĩa của xe gắn máy biển số 63P3 – 422xx; một (01) pô xe gắn máy, bình xăng con, tản nhiệt, IC của xe gắn máy biển số 54H2 – 44xx. Đây là các phụ tùng H trộm cắp tại kho vật chứng Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các vật chứng trên đang nhập kho theo phiếu nhập kho vật chứng số: 31/PNK ngày 30/3/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P.

- Thu giữ của anh Trần Tiến T: 01 đĩa CD hiệu RITEK ghi lại hình ảnh diễn biến vụ việc (kèm hồ sơ vụ án).

* Về phần dân sự: Anh Đặng Xuân T là người được phân công quản lý kho vật chứng, yêu cầu nhận lại số tài sản H trộm cắp đã được thu hồi, ngoài ra không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại bản cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 18 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị hại, những người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Từ khoảng đầu tháng 6/2021 đến ngày 24/10/2021 Trịnh Quốc H đã nhiều lần lợi dụng sơ hở trong việc trông coi kho vật chứng đã có hành vi trộm cắp phụ tùng các xe gắn máy với tổng trị giá 13.000.000 (mười ba triệu) đồng tại kho vật chứng Công an quận P tại số đường B, phường Q, quận P do anh Đặng Xuân T quản lý thì bị phát hiện, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Đối với đối tượng tên Trần K mua lại các phụ tùng xe gắn máy trộm cắp được từ H, do H không biết rõ nhân thân, lai lịch nên chưa làm việc được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó vừa trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm một cách liều lĩnh, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết có một hình phạt nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” nên thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra bị cáo đã chủ động liên hệ để chuộc lại tài sản trộm cắp để khắc phục hậu quả, tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo;

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, luôn có mặt khi các Cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập, bị cáo hiện là lao động chính duy nhất trong gia đình, đã có thời gian phục vụ trong lực lượng vũ trang, đây cũng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) do đó nghĩ không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cần áp dụng Điều 65 cho bị cáo được hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục được đi làm để giúp đỡ gia đình cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo từ bỏ con đường phạm tội, đồng thời cũng thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào Khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì lẽ ra bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền bổ sung. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu nên miễn cho bị cáo;

Về trách nhiệm dân sự: Anh Đặng Xuân T yêu cầu nhận lại tài sản bị mất trộm, đồng thời không có bất kỳ yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết;

Về xử lý vật chứng:

Đối với một (01) cây siết ốc bằng kim loại hình chữ L, dài 32 cm; một (01) cây khóa vòng bằng kim loại dài 26 cm; một (01) cây khóa vòng bằng kim loại dài 22 cm; hai (02) cây cờ lê bằng kim loại dài 18 cm; một (01) cây cờ lê bằng kim loại dùng để vặn ốc xe dài 17 cm; một (01) cây cờ lê bằng kim loại dùng để vặn ốc xe dài 13 cm; một (01) cây cần siết bằng kim loại dài 15 cm; một (01) cây lục giác bằng kim loại hình chữ L dài 7 cm; hai (02) đầu kim loại hình tròn một đầu dài 2 cm, một đầu dài 2,5 cm. Hội đồng xét xử xét thấy đây là số công cụ bị cáo sử dụng để trộm cắp các phụ tùng xe gắn máy tại kho vật chứng nên tịch thu tiêu hủy;

Đối với một (01) lốc máy của xe gắn máy số máy: IS920116xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe, bình ắc quy của xe gắn máy biển số 52P7-57xx; một (01) lốc máy của xe gắn máy số máy: S94-0169xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, bình ắc quy, pô xe của xe gắn máy biển số 54S1-10xx; một (01) lốc máy số máy: 5P71-0022xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe của xe gắn máy biển số 55Y1-23xx; một (01) lốc máy của xe gắn máy số máy: 55P1-0284xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe của xe gắn máy biển số 59C1-281xx; một (01) lốc máy số máy: G34DE- 0236xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, bình ắc quy, pô xe, heo dầu thắng đĩa của xe gắn máy biển số 63P3-422xx; một (01) pô xe gắn máy, bình xăng con, tản nhiệt, IC của xe gắn máy biển số 54H2-44xx. Hội đồng xét xử xét thấy đây là các phụ tùng H trộm cắp tại kho vật chứng Công an quận P thuộc quyền quản lý của anh Đặng Xuân T nên giao trả cho anh T;

Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số: 31/PNK ngày 30/3/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P.

Lưu vào hồ sơ vụ án một (01) đĩa CD hiệu RITEK ghi lại hình ảnh diễn biến vụ việc (kèm hồ sơ vụ án).

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Quốc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo:

Trịnh Quốc H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Miễn khoản tiền phạt bổ sung cho bị cáo;

* Áp dụng Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tịch thu tiêu hủy một (01) cây siết ốc bằng kim loại hình chữ L dài 32 cm; một (01) cây khóa vòng bằng kim loại dài 26 cm; một (01) cây khóa vòng bằng kim loại dài 22 cm; hai (02) cây cờ lê bằng kim loại dài 18 cm; một (01) cây cờ lê bằng kim loại dùng để vặn ốc xe dài 17 cm; một (01) cây cờ lê bằng kim loại dùng để vặn ốc xe dài 13 cm; một (01) cây cần siết bằng kim loại dài 15 cm; một (01) cây lục giác bằng kim loại hình chữ L dài 7 cm; hai (02) đầu kim loại hình tròn 1 đầu dài 2 cm, 1 đầu dài 2,5 cm;

Trả cho anh Đặng Xuân T một (01) lốc máy của xe gắn máy số máy: IS920116xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe, bình ắc quy của xe gắn máy biển số 52P7-57xx; một (01) lốc máy của xe gắn máy số máy: S94-0169xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, bình ắc quy, pô xe của xe gắn máy biển số 54S1-10xx; một (01) lốc máy số máy: 5P71-0022xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe của xe gắn máy biển số 55Y1-23xx; một (01) lốc máy của xe gắn máy số máy: 55P1-0284xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, pô xe của xe gắn máy biển số 59C1-281xx; một (01) lốc máy số máy: G34DE-0236xx (đã bị mài đục, không xác định được số máy nguyên thủy) kèm theo bình xăng con, tản nhiệt, IC, bình ắc quy, pô xe, heo dầu thắng đĩa của xe gắn máy biển số 63P3-422xx; một (01) pô xe gắn máy, bình xăng con, tản nhiệt, IC của xe gắn máy biển số 54H2-44xx;

(Tình trạng vật chứng theo phiếu nhập kho vật chứng số: 31/PNK ngày 30/3/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P)

Lưu vào hồ sơ vụ án một (01) đĩa CD hiệu RITEK ghi lại hình ảnh diễn biến vụ việc (kèm hồ sơ vụ án);

Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo; người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày Tòa án tống đạt, niêm yết bản án hợp lệ theo quy định của pháp luật;

(Hội đồng xét xử đã giải thích chế định án treo)

Cỡ chữ