vanban.org

Bản án 172/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Ngọc T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Ngọc T được ly hôn với anh Lâm Trọng L. Giấy chứng nhận kết hôn số 77 ngày 21/10/2014 của Ủy ban nhân dân xã Tây Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 172/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 08/12/2022
V/v tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hòa;

2. Bà Dương Triết Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Công Minh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 437/2022/TLST-HNGĐ ngày 18/10/2022, về việc: “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 324/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/11/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị Ngọc T, sinh năm 1992

Địa chỉ: Ấp Phú Bình, xã An Bình, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Số điện thoại: xxxxxxxxxx (mẹ của chị T)

2. Bị đơn: Anh Lâm Trọng L, sinh năm 1989

HKTT: Ấp Phú Hùng, xã Tây Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Hiện đang bị giam tại Trại giam Định Thành.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Lương Thị A, sinh năm 1984

Địa chỉ: Ấp Cầu Tràm, xã Long Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Số điện thoại: xxx.xxx.xxxx

(Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt

và có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lương Thị Ngọc T trình bày: Chị và anh L tự nguyện chung sống từ năm 2008, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) ở xã Tây Phú. Trong thời gian chung sống vợ chồng có 02 con chung tên Lâm Trọng B, sinh ngày 07/9/2009 và Lâm Hoàng C, sinh ngày 20/8/2014. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng thường hay cự cãi, mỗi lần cự cãi thì anh L lại xua đuổi chị về nhà mẹ ruột, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Năm 2019, anh L bị bắt giam vì phạm tội hiếp dâm, từ đó một mình chị phải lo cho gia đình, vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy, cuộc sống hôn nhân không thể hàn gắn và kéo dài nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lâm Trọng Luân. Về con chung: Có 02 con chung tên Lâm Trọng B, sinh ngày 07/9/2009 và Lâm Hoàng C, sinh ngày 20/8/2014 (hiện 02 con chung đang sống với mẹ). Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lâm Trọng L trình bày: Anh L thống nhất với trình bày của chị T về quá trình chung sống của vợ chồng, riêng về mâu thuẫn giữa vợ chồng anh L trình bày: “Cuộc sống vợ chồng từ lúc kết hôn rất hạnh phúc cho đến khi tôi phạm tội và bị bắt giam từ năm 2019, từ lúc tôi chấp hành án cho đến ngày 14/8/2022 thì chị T tháng nào cũng tới thăm tôi, vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn nên tôi không đồng ý ly hôn”.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Lâm Trọng B, sinh ngày 07/9/2009 và Lâm Hoàng C, sinh ngày 20/8/2014 (hiện 02 con chung đang sống với mẹ). Nếu có ly hôn, anh L đồng ý giao 02 con chung cho chị Thạch tiếp tục nuôi dưỡng, anh sẽ không cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản:

+ Về tài sản chung: Không có.

+ Về nợ chung: Anh L trình bày: “Không có ai nợ vợ chồng, chỉ có vợ chồng nợ chị vợ tên Vàng (không nhớ rõ họ tên) số tiền là 60.000.000 đồng, do tôi đứng ra mượn để cất nhà ở, tôi đồng ý cùng với vợ trả cho chị A sau khi tôi chấp hành án xong”.

Tại biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lương Thị A trình bày: Chị A là chị ruột của Thạch, Luân là chồng của Thạch. Năm 2018, chị A có cho riêng chị T số tiền là 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) để xây nhà chứ chị không cho Thạch mượn hay vay tiền gì cả. Tóm lại chị T và anh L không có nợ tiền gì của chị A nên chị A không có yêu cầu gì đối Thạch, Luân về số tiền 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) trên.

Bên cạnh đó, chị A cũng cho biết về mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh L như sau: “…Luân và Thạch hay cự cãi, Luân thường xuyên xua đuổi chị T về nhà mẹ ruột, cuộc sống hôn nhân giữa Thạch và Luân không hạnh phúc từ rất lâu rồi. Năm 2019 thì anh L bị bắt giam vì tội hiếp dâm, từ đó một mình Thạch phải lo cho gia đình, con cái, luôn buồn trong lòng và thường hay bị bà con hàng xóm hay dị nghị nên Thạch mặc cảm”.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lương Thị Ngọc T có đơn xin không tiến hành hòa giải. Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lương Thị Ngọc T, bị đơn anh Lâm Trọng L, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lương Thị A vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, mọi vấn đề có liên quan chị T, anh L và chị A đã trình bày đầy đủ, rõ ràng trong hồ sơ vụ án, ngoài ra chị T, anh L và chị A không có ý kiến gì khác.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn phát biểu ý kiến:

- Về tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Về cơ bản vụ án đã được tiến hành đúng theo trình tự pháp luật quy định, đã xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân, có đủ cơ sở đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 8, Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh L. Về con chung: Giao 02 con chung tên Lâm Trọng B, sinh ngày 07/9/2009 và Lâm Hoàng C, sinh ngày 20/8/2014 cho chị T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi 02 con do chị T không yêu cầu. Về tài sản chung: không xem xét, về nợ chung: không xem xét do nguyên đơn trình bày không có, bị đơn không chứng minh được vợ chồng có nợ chung và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lương Thị A không có yêu cầu độc lập. Về án phí: Chị T yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây gọi tắt là HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con; Bị đơn anh Lâm Trọng L cư trú tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn. Tại phiên tòa nguyên đơn chị Lương Thị Ngọc T, bị đơn anh Lâm Trọng L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lương Thị A vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của BLTTDS xét xử vụ án vắng mặt chị T, anh L và chị A.

Về nội dung:

Chị Lương Thị Ngọc T chung sống với anh Lâm Trọng L có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tây Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Do vậy, căn cứ vào Điều 8 và Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Sau khi kết hôn, chị T và anh L chỉ có một năm đầu chung sống hạnh phúc, thời gian sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng thường hay cự cãi, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Năm 2019, anh L bị bắt giam vì phạm tội hiếp dâm, từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, chị T phải một mình lo cho gia đình. Vợ chồng đã ly thân từ đó cho đến nay, trong thời gian ly thân tình cảm của chị T dành cho anh L đã không còn. Việc anh L cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn lớn và không đồng ý ly hôn là không có căn cứ. Căn cứ vào quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh L đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh L.

Về con chung: Qua chứng cứ chị T cung cấp cũng như lời trình bày của anh L thì chị Lương Thị Ngọc T và anh Lâm Trọng L có 02 con chung tên Lâm Trọng B, sinh ngày 07/9/2009 và Lâm Hoàng C, sinh ngày 20/8/2014 (02 cháu đang ở với chị T). Trong quá trình giải quyết vụ án cháu B và cháu C đều có nguyện vọng sống với mẹ, bản thân chị T đủ điều kiện trực tiếp nuôi 02 con chung và cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng hai con. Trong quá trình giải quyết vụ án anh L cũng đồng ý giao 02 con chung cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Do vậy, HĐXX áp dụng các Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, giao 02 con chung tên Lâm Trọng B, sinh ngày 07/9/2009 và Lâm Hoàng C, sinh ngày 20/8/2014 cho chị Lương Thị Ngọc T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu B và cháu C thành niên (đủ 18 tuổi), tự lao động được là phù hợp và đảm bảo được các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, việc học tập, môi trường sống của 02 cháu; Chị T phải tạo điều kiện cho anh L được quyền đến thăm nom, chăm sóc 02 con chung, không ai được cản trở; Khi cần thiết anh L có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con theo quy định pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung:

Về tài sản chung: Chị T và anh L đều trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung:

Chị T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh L trình bày anh và chị T có nợ chị Lương Thị A số tiền 60.000.000 đồng và yêu cầu vợ chồng cùng trả cho chị A. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án chị A cho rằng chị T và anh L không có nợ chị số tiền nào cả, số tiền 60.000.000 đồng anh L đề cập thực chất là tiền chị cho riêng em gái Lương Thị Ngọc Thạch nay chị không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị T hay anh L phải trả lại nên HĐXX không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

Các đương sự được kháng cáo bản án theo quy định của Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị Ngọc T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị Ngọc T được ly hôn với anh Lâm Trọng L.

Giấy chứng nhận kết hôn số 77 ngày 21/10/2014 của Ủy ban nhân dân xã Tây Phú, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về quan hệ con chung: Chị Lương Thị Ngọc T được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Lâm Trọng B, sinh ngày 07/9/2009 và Lâm Hoàng C, sinh ngày 20/8/2014; Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con chung nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm miễn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Lâm Trọng L do chị Lương Thị Ngọc T không yêu cầu. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các đương sự có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về tài sản chung và nợ chung:

- Về tài sản chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Lương Thị Ngọc T trình bày không có nên không đặt ra giải quyết.

- Về nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Lương Thị Ngọc T trình bày không có, bị đơn anh Lâm Trọng L trình bày có nợ chung nhưng không chứng minh được và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lương Thị A không có yêu cầu độc lập nên không đặt ra giải quyết. Tuy nhiên, sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Lương Thị Ngọc T và anh Lâm Trọng L phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

5. Về án phí sơ thẩm: Chị Lương Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009435 ngày 18/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Như vậy, chị Lương Thị Ngọc T đã thực hiện xong nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm. Anh Lâm Trọng L không phải chịu án phí.

Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ