- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 BLHS - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hoàng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 172/2021/HSST Ngày: 29/12/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Hợp
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đàm Thị Bình
2. Bà Vũ Kim Hoa (nguyên là cán bộ phụ trách công tác trẻ em, công tác bình đẳng giới - Phòng Lao động thương binh xã hội thành phố Cao Bằng).
Thư ký phiên tòa: Ông Vi Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 175/2021/HSST ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2021/QĐXXST-HS ngày 12/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 08/11/2003 tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm Hạnh Phúc, xã Hoàng Tung, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Con ông: Hoàng Văn H - sinh năm 1975 (trú tại: Xóm Hạnh Phúc, xã Hoàng Tung, huyện H, tỉnh Cao Bằng); Con bà: Nông Thị H - sinh năm 1983 (trú tại: xã Bạch Đằng, huyện H, tỉnh Cao Bằng); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Không.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Hoàng Tung, huyện H, tỉnh Cao Bằng từ ngày 23/9/2021 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Hoàng Văn H - sinh năm 1975;
Địa chỉ: Xóm Hạnh Phúc, xã Hoàng Tung, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Ông Triệu Bằng Giang - Trợ giúp viên pháp lý của T tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng; Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Sầm Hồng H - sinh năm 1995.
Địa chỉ: Tổ 04, phường D, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH NIN SING LOGISTICS
Người đại diện theo pháp luật: Lê Văn Quốc K – Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Lê Lương Diệu Q - sinh năm 1995
Địa chỉ: Xóm 4, xã V, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Lê Thị Nhật A - sinh năm 2007
Địa chỉ: Tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật của Lê Thị Nhật A: Bà Lê Phương G
Địa chỉ: Tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
3. Hoàng Thị B - sinh năm 1957
Địa chỉ: Xóm Hạnh Phúc, xã Hoàng Tung, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có ý định chiếm đoạt 01 điện thoại IPHONE 12 Promax để sử dụng, khoảng 01h ngày 13/8/2021 trong khi đang chơi game tại quán, Hoàng Văn T đã sử dụng số điện thoại thường dùng 0395.434.761, đặt mua 01 điện thoại IPHONE 12 Promax màu vàng đồng dung lượng 128 GB qua ứng dụng mua sắm SHOPEE với giá 28.290.000đ (Hai mươi tám triệu hai trăm chín mươi nghìn đồng). T lấy tên người nhận là Nông Anh T, địa chỉ: Nhà máy gạch Tuy nen, xóm Nam Phong, xã H, thành phố Cao Bằng. Đơn đặt hàng đã được SHOPEE xác nhận.
Sáng ngày 16/8/2021, điện thoại IPHONE 12 Promax về đến kho của Công ty TNHH Nin Sing Logistic chi nhánh Cao Bằng, Lê Lương Diệu Q là người quản lý kiểm tra rồi giao cho nhân viên giao hàng là Sầm Hồng H đi giao hàng và thu tiền nộp lại cho Q. Sau khi nhận đơn hàng, khoảng 14 giờ cùng ngày H gọi điện cho “T” tức T để giao hàng. T đang ở nhà nên hẹn: “Khi nào đến gần nhà máy gạch thuộc xóm Nam Phong 1, xã H, thành phố Cao Bằng thì gọi em”.
Đến khoảng hơn 15h cùng ngày, H gọi điện đến số điện thoại 0395.434.761 của T báo đã gần đến địa chỉ nhận hàng. T hẹn nhận hàng tại ngã ba đường rẽ vào Trại vịt vượt nhà máy gạch Tuynel khoảng 400m theo hướng đi huyện N, tỉnh Cao Bằng thuộc xóm Nam Phong 1, xã H, thành phố Cao Bằng rồi đi bộ từ nhà đến địa điểm nhận hàng.
T đợi khoảng 05 phút thì H đến giao điện thoại và không cho mở để kiểm tra. T nhận gói hàng, thấy bao bì ghi đúng sản phẩm đã đặt mua nên nói với H: “Anh đi theo em vào trong này để em lấy tiền thanh toán”. Sau đó T cầm điện thoại đi bộ, H đi mô tô song song, cùng nhau đi theo hướng vào Trại vịt thuộc xóm Nam Phong 1, xã H, thành phố Cao Bằng. Đi được 20m thì gặp 01 xe ô tô chở hàng đi ngược chiều, do đường hẹp nên H điều khiển xe mô tô đi lên phía trước để tránh, T cầm điện thoại đi bộ phía sau nên đã quay đầu bỏ chạy. H quan sát qua gương chiếu hậu thấy T bỏ chạy theo hướng ngược lại nên quay xe đuổi theo nhưng do vướng xe ô tô đi ngược chiều nên khi ra đến đường Quốc lộ thì không biết T chạy theo hướng nào, H đuổi tiếp một đoạn theo hướng về Nhà máy gạch nhưng không thấy nên hồi 16h30 ngày 16/8/2021 H đến Công an xã Hưng Đạo viết đơn trình báo.
Sau khi lấy được điện thoại, T chạy về nhà, lắp sim của mình vào điện thoại IPHONE 12 Promax và kích hoạt rồi đi xe máy điện nhãn hiệu ABICO màu sơn đen, không lắp biển kiểm soát mang theo chiếc điện thoại xuống thành phố chơi. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi T điều khiển xe máy điện đi đến khu vực xóm Nam Phong 1, xã H, thành phố Cao Bằng thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an thành phố Cao Bằng bắt quả tang và thu giữ:
- 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu IPHONE 12 Promax màu vàng đồng dung lượng 128 GB số IMEI 351143343385277.
- 01 xe máy điện nhãn hiệu ABICO màu sơn đen, không lắp biển kiểm soát, số khung RPYEEKTZK8K 00823 đã qua sử dụng.
- 01 hộp đựng điện thoại, 01 cáp sạc điện thoại và 01 điện thoại MASTTEL màu cam đen đã qua sử dụng số IMEI: 352120088325485, có gắn sim của nhà mạng Viettel.
Ngày 23 tháng 8 năm 2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng đã yêu cầu định giá tài sản số 205 để xác định giá trị điện thoại đã bị T chiếm đoạt. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 53/KL-TCKH ngày 26 tháng 8 năm 2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng kết luận: Điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Promax màu vàng đồng, dung lượng 128GB, còn mới chưa qua sử dụng giá trị tài sản là: 30.999.000 đồng (Ba mươi triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng).
Đối với chiếc điện thoại có chữ Matsel màu cam đen, số IMEI: 352120088325485, có gắn sim số 0395.434.761 T dùng để liên lạc với nhân viên giao hàng là của Hoàng Thị B (sinh năm 1957; trú tại: Xóm Hạnh Phúc, xã Hoàng Tùng, huyện H, tỉnh Cao Bằng), bà nội của T. Trưa ngày 16/8/2021 T mượn điện thoại của bà B để lắp sim và sử dụng đặt mua điện thoại di động với ứng dụng mua sắm SHOPEE. Việc T sử dụng điện thoại để làm phương tiện đặt hàng, liên lạc nhận hàng bà B không biết nên không có căn cứ để xử lý bà B. Ngày 16/11/2021 cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại nêu trên cho chủ sở hữu.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu ANBICO mà sơn đen, có số khung RP4YEFKTZK8K00823, không lắp biển kiểm soát là tài sản của Lê Phương G (sinh năm 1972; trú tại tổ 11, phường S, thành phố Cao Bằng) mua cho con gái là Lê Thị Nhật A để sử dụng. Hoàng Văn T có quan hệ quen biết với Lê Thị Nhật A, chiều ngày 15/8/2021, T mượn xe của A đi từ thành phố Cao Bằng về nhà nên việc T sử dụng xe đi đâu, làm gì A không biết, cơ quan điều tra không xử lý. Ngày 16/11/2021, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy điện nêu trên cho Lê Phương G, bà G không có yêu cầu khác về trách nhiệm dân sự.
Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 12 Promax, màu vàng đồng, dung lượng 128GB là tài sản của Công ty TNHH S-TRADING (Công ty bán hàng trên sàn thương mại điện tử SHOPEE) do TRAN ANH T giữ chức vụ giám đốc đã chuyển cho Công ty TNHH Nin Sing Logistics (NINJA VAN) là đơn vị cung ứng dịch vụ chuyển phát nhanh do Lê Lương Diệu Q quản lý chi nhánh tại Cao Bằng. Sau khi nhận hàng, Q đã kiểm tra và giao cho Sầm Hồng H để giao cho khách hàng và thu tiền nộp lại cho Q. Do đó H là người trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm trước Công ty về chiếc điện thoại.
Trên cơ sở hợp đồng cung ứng dịch vụ bưu chính và T gian thanh toán số 04/2020 giữa bên A - Công ty TNHH SHOPEE, bên B - Công ty cổ phần AIRPAY, bên C - Công ty TNHH SIN LOGISTICS và bên D - Công ty TNHH S-TRADING và công văn số 17/2021 ngày 03/11/2021 của Công ty TNHH S-TRADING, sau khi nhận được thông tin về vụ việc xảy ra Công ty TNHH S-TRADING đã yêu cầu Công ty TNHH NIN SING LOGISTICS (NINJA VAN) hoàn trả lại hàng, sau khi nhận hàng sẽ xem xét mức độ hư hỏng thực tế và gửi yêu cầu bồi thường cho phía NINJA VAN nếu phát sinh sự cố theo quy định.
Ngày 15/9/2021 Công ty TNHH NIN SING LOGISTICS (NINJA VAN) đã có văn bản ủy quyền cho Lê Lương Diệu Q thay mặt và nhân danh NINJA VAN để giải quyết vụ việc. Ngày 16/11/2021 cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại nhãn hiện IPHONE 12, promax 128GB cho bị hại Sầm Hồng H có sự chứng kiến của Lê Lương Diệu Q.
Hành vi của Hoàng Văn T đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 174/CT-VKSTP ngày 30/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí với Bản kết luận định giá số 53/KL-TCKH ngày 26/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Cao Bằng cũng như các hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án, không có khiếu nại hay ý kiến khác.
Bị hại Sầm Hồng H có đơn xin xét xử vắng mặt, tài liệu trong hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản chiếc điện thoại nhãn hiện IPHONE 12, màu vàng đồng, dung lượng 128GB; bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả là 5.000.000đ (năm triệu đồng). Bị hại có đơn xin miễn giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, không có yêu cầu khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị B là bà nội của bị cáo xác nhận lời khai của bị cáo, bà không biết việc T mượn điện thoại của bà để đặt mua điện thoại và liên lạc với nhân viên giao hàng. Bà đã nhận lại chiếc điện thoại có chữ Matsel màu cam đen, số IMEI: 352120088325485 ngày 16/11/2021 với cơ quan điều tra, bà không có ý kiến khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lê Thị Nhật A và người đại diện theo pháp luật của Lê Thị Nhật A là bà Lê Phương G có đơn xin xét xử vắng mặt. Tài liệu trong hồ sơ thể hiện: Hoàng Văn T có quan hệ quen biết với Lê Thị Nhật A. Chiều ngày 15/8/2021, T mượn xe của A về nhà, việc T sử dụng xe đi đâu, làm gì A không biết. Ngày 16/11/2021, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy điện nhãn hiệu ANBICO màu sơn đen, có số khung RP4YEFKTZK8K00823, không lắp biển kiểm soát cho bà Lê Phương G, bà G không có yêu cầu khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH SIN LOGISTICS, người đại diện theo pháp luật ông Lê Văn Quốc K – chức vụ: Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền bà Lê Lương Diệu Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà Q xác nhận: Ngày 16/11/2021 cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại nhãn hiện IPHONE 12, màu vàng đồng, dung lượng 128GB cho bị hại Sầm Hồng H có sự chứng kiến của bà, bà Q không có yêu cầu khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, nhận định bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn hạn chế, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội "Cướp giật tài sản". Đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận, bồi thường xong nên không giải quyết.
Trợ giúp viên pháp lý Triệu Bằng Giang bào chữa cho bị cáo: Bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi, nhận thức còn nhiều hạn chế, hành vi phạm tội có tính bột phát, nhất thời. Sau khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo, nhận thức được sai lầm của mình, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tại địa phương có sự giám sát của gia đình, sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đại diện theo pháp luật của bị cáo, ông Hoàng Văn H nhất trí như ý kiến của trợ giúp viên pháp lý, gia đình cam kết sẽ quan tâm giáo dục bị cáo trong thời gian được hưởng án treo.
Bị cáo Hoàng Văn T, người đại diện theo pháp luật của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo Triệu Bằng Giang không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; khi nói lời sau cùng, bị cáo tỏ ra ân hận về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy :
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn T đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản xem xét hiện trường, phù hợp với Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Có đủ căn cứ kết luận: Ngày 13/8/2021 Hoàng Văn T đã dùng tên giả và thay đổi địa chỉ nhận hàng đặt mua 01 điện thoại di động IPHONE 12 Promax qua ứng dụng Shopee với ý định khi người giao hàng đem điện thoại đến sẽ lợi dụng sơ hở bỏ chạy để chiếm đoạt tài sản.
Vào khoảng 16h ngày 16 tháng 8 năm 2021 tại khu vực xóm Nam Phong 1, xã H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, khi Sầm Hồng H đưa cho gói hàng (bên trong là điện thoại đã đặt mua) để kiểm tra thông tin, lợi dụng H đang tránh xe ô tô đi ngược chiều, T nhanh chóng bỏ chạy theo hướng ngược lại để chiếm đoạt chiếc điện thoại di động IPHONE 12 Promax, màu vàng đồng của Sầm Hồng H là nhân viên giao hàng của Công ty TNHH Nin Sing Logistics (NINJA VAN) chi nhánh Cao Bằng rồi đi về nhà kích hoạt điện thoại để sử dụng. Giá trị chiếc điện thoại Hoàng Văn T đã chiếm đoạt là 30.999.000đ (Ba mươi triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng).
Bị cáo đã dùng thủ đoạn dùng tên giả, địa chỉ nhận hàng không đúng để đặt mua tài sản nhưng ý định chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã thể hiện từ trước với phương thức khi được cầm tài sản trong tay sẽ lợi dụng sơ hở của người giao hàng, nhanh chóng bỏ chạy để thoát khỏi sự quản lý của họ. Thủ đoạn gian dối của bị cáo chỉ là phương thức để tiếp cận tài sản, bởi lẽ ngay từ khi đặt mua đến khi nhận được hàng bị cáo không hề có tiền, nên dù có tiếp cận được tài sản bằng thủ đoạn gian dối thì bị cáo cũng không thể chiếm đoạt được tài sản.
Tại thời điểm phạm tội, bị cáo 17 tuổi 9 tháng 8 ngày nên nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do đua đòi, muốn hưởng thụ nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có sự chuẩn bị hành vi phạm tội với phương thức khá tinh vi và liều lĩnh, ngay từ đầu đã có thủ đoạn dùng tên giả, địa chỉ giả để che dấu hành vi phạm tội của bản thân, sau đó lại thay đổi giờ nhận hàng từ 15h sang 16h, thay đổi địa điểm nhận hàng từ nhà máy gạch đến một nơi vắng vẻ, đường dốc quanh co ít người qua lại để dễ bề chiếm đoạt tài sản. Sau khi được cầm tài sản trên tay, bị cáo tiếp tục nói dối anh H đi vào phía trong một đoạn để lấy tiền trả anh nhưng mục đích chỉ để lợi dụng lúc anh H tránh xe ô tô ngược chiều, không thể đuổi kịp, bị cáo đã nhanh chóng bỏ chạy và đã chiếm đoạt được tài sản là chiếc điện thoại di động IPHONE 12 Promax 128GB màu vàng đồng trị giá 30.999.000đ (Ba mươi triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng) của anh H.
Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn thành phố, làm cho quần chúng nhân dân bất bình, lên án. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Hoàng Văn T tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Hoàng Văn T có hành vi cướp giật tài sản giá trị 30.999.000đ (Ba mươi triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng) nên bị truy tố, xét xử theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, chưa đủ 18 tuổi. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và đã cùng gia đình tự nguyện thỏa thuận và bồi thường cho bị hại nên được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: ”Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và tình tiết “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Do bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về hình phạt: Căn cứ vào nhân thân của bị cáo, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, do chưa đủ 18 tuổi nên có phần hạn chế về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Hơn nữa, do hoàn cảnh gia đình bị cáo mẹ đi làm công nhân ở xa, không có mặt ở nhà để dạy bảo, bố bị cáo ít quan tâm đến con, phần lớn thời gian bị cáo sống với bà nội, bản thân bị cáo hay chơi game nên bị tác động bởi những mặt trái của mạng xã hội dẫn đến hành vi phạm tội.
Do bị cáo tuổi đời còn trẻ (18 tuổi 01 tháng 21 ngày), có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, gia đình hiện nay còn bà nội và bố, bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội. Do bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo nên cần chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và trợ giúp viên pháp lý, cho bị cáo hưởng án treo có ấn đinh thời gian thử thách để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tại nơi cư trú để sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Chiếc điện thoại Mastel màu cam đen, số IMEI: 352120088325485, có gắn sim số 0395.434.761 bị cáo dùng để đặt hàng và liên lạc với nhân viên giao hàng là của bà Hoàng Thị B, bà B không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 16/11/2021 cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại cho bà B là đúng pháp luật. Bà B không có yêu cầu khác, tòa án không xem xét giải quyết nhưng cần xác nhận trong bản án.
Đối với chiếc xe máy điện nhãn hiệu ANBICO mà sơn đen, có số khung RP4YEFKTZK8K00823, không lắp biển kiểm soát là tài sản của Lê Phương G mua cho con gái là Lê Thị Nhật A sử dụng. Buổi chiều ngày 15/8/2021, T mượn xe của A, chị A và bà G không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội nên ngày 16/11/2021, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy điện nêu trên cho bà G là đúng pháp luật. Bà G và chị A không có yêu cầu khác, tòa án không xem xét giải quyết nhưng cần xác nhận trong bản án.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 07/11/2021, bị cáo Hoàng Văn T và gia đình đã tự nguyện xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho bị hại Sầm Hồng H số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Anh H nhất trí, không có yêu cầu khác, tòa án không giải quyết nhưng cần xác nhận trong bản án.
Chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 12 Promax bị cáo T chiếm đoạt là tài sản của Công ty TNHH S-TRADING chuyển cho Công ty TNHH Nin Sing Logistics (NINJA VAN) làm dịch vụ chuyển phát nhanh chi nhánh tại Cao Bằng. Anh Sầm Hồng H là người được chi nhánh giao điện thoại để phát cho T và thu tiền, là người trực tiếp quản lý và chịu trách nhiệm trước Công ty về chiếc điện thoại nên được xác định là bị hại trong vụ án.
Trên cơ sở hợp đồng cung ứng dịch vụ bưu chính và T gian thanh toán số 04/2020 giữa bên A - Công ty TNHH SHOPEE, bên B - Công ty cổ phần AIRPAY, bên C - Công ty TNHH SIN LOGISTICS và bên D - Công ty TNHH S-TRADING và công văn số 17/2021 ngày 03/11/2021 của Công ty TNHH S-TRADING, Công ty TNHH S-TRADING đã yêu cầu Công ty TNHH NIN SING LOGISTICS (NINJA VAN) hoàn trả lại điện thoại, sau đó sẽ yêu cầu phía NINJA VAN bồi thường thiệt hại cho nếu có phát sinh.
Như vậy việc giải quyết các vấn đề liên quan đến trách nhiệm dân sự đối với chiếc điện thoại do bị cáo chiếm đoạt được xem xét đối với bị hại Sầm Hồng H. Các công ty liên quan trong chuỗi cung cấp, dịch vụ bưu chính, thanh toán kể trên đã có thỏa thuận tự giải quyết tranh chấp với nhau nếu có phát sinh thiệt hại, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này.
Ngày 15/9/2021 Công ty TNHH NIN SING LOGISTICS (NINJA VAN) đã có văn bản ủy quyền cho bà Lê Lương Diệu Q quản lý chi nhánh tỉnh Cao Bằng được thay mặt và nhân danh NINJA VAN để giải quyết vụ việc. Ngày 16/11/2021 cơ quan điều tra đã trả lại chiếc điện thoại nêu trên cho bị hại Sầm Hồng H, có sự chứng kiến của bà Q là đúng pháp luật.
Ông Sầm Hồng H và bà Lê Lương Diệu Q không có yêu cầu khác, Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo: bị cáo Hoàng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân và trợ giúp viên pháp lý tại phiên tòa là đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: khoản 1 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Hoàng Văn T.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Hoàng Tung, huyện H, tỉnh Cao Bằng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Sầm Hồng Hcó trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án dã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
2. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận ngày 07/11/2021 bị cáo Hoàng Văn T cùng đại diện gia đình và bị hại Sầm Hồng H đã thỏa thuận, bồi thường xong thiệt hại về tài sản với số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng), anh H đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu khác, Tòa án không giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xác nhận:
Xác nhận ngày 16/11/2021, bị hại Sầm Hồng H đã nhận lại 01 (một) điện thoại nhãn hiện IPHONE 12, màu vàng đồng, dung lượng 128GB tại cơ quan Công an thành phố Cao Bằng theo biên bản ngày 16/11/2021, có sự chứng kiến của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Nin Sing Logistics, đại diện theo ủy quyền là bà Lê Lương Diệu Q. Ông Sầm Hồng H không có yêu cầu khác, Tòa án không giải quyết.
Xác nhận ngày 16/11/2021, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị B đã nhận lại tài sản 01 (một) chiếc điện thoại có chữ Matsel màu cam đen, số IMEI: 352120088325485, có gắn sim số 0395.434.761 tại cơ quan Công an thành phố Cao Bằng theo biên bản ngày 16/11/2021. Bà Hoàng Thị B không có yêu cầu khác về dân sự, Tòa án không giải quyết.
Xác nhận: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lê Thị Nhật A và người đại diện theo pháp luật bà Lê Phương G đã nhận lại tài sản 01 (một) chiếc xe máy điện nhãn hiệu ANBICO màu sơn đen, có số khung RP4YEFKTZK8K00823, không lắp biển kiểm soát tại cơ quan Công an thành phố Cao Bằng theo biên bản ngày 16/11/2021. Lê Thị Nhật A và Lê Phương G không có yêu cầu khác về dân sự, Tòa án không giải quyết.
4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Bị cáo Hoàng Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại Sầm Hồng H vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hoàng Thị B có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo phần của bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Lương Diệu Q vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo phần của bản án có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật /.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Sở tư pháp; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lƣơng Thị Hợp |