- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn X chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn X phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 172/2021/HS-ST Ngày 25/9/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Bảo Châu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Liên và bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Cốc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 145/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
NGUYỄN X, sinh năm 1964 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Khu phố 3, phường T, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Th (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1928; có vợ là Nguyễn Thị S, sinh năm: 1966 và 02 người con, lớn nhất sinh năm: 1988, nhỏ nhất sinh năm: 1990.
Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 14/8/2021, Tổ tuần tra Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm đang làm nhiệm vụ xử lý vi phạm bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên tuyến đường H, thuộc khu phố 2, phường M, thành phố P. Tổ tuần tra do đồng chí Nguyễn Thái S là Cảnh sát giao thông làm tổ trưởng, lúc này tiến hành dừng xe mô tô, biển kiểm soát số 85R1-1291 do ông Nguyễn X điều khiển chở anh Trần Văn D để kiểm tra. Trong quá trình kiểm tra, tổ tuần tra đo nồng độ cồn ông X, kết quả 0,622mg/lít khí thở, đồng thời phát hiện nhiều lỗi vi phạm hành chính khác gồm: Xe mô tô không có kính chiếu hậu bên trái, không có giấy phép lái xe, không có giấy đăng ký xe nên đã tiến hành lập biên bản, nhiều lần giải thích và đề nghị ông X ký tên vào biên bản vi phạm, cho rằng mình không có lỗi nên ông X không đồng ý ký vào biên bản vi phạm hành chính. Sau đó, đồng chí S mời ông X rời khỏi khu vực tổ công tác đang làm nhiệm vụ. Do bực tức vì bị xử lý vi phạm hành chính nên khi đồng chí S đang đi vào vị trí để tiếp tục làm nhiệm vụ thì bị ông X dùng tay phải đánh 01 cái theo hướng từ phải sang trái trúng phía sau đầu đồng chí S làm rơi mũ Kêpi và ngã xuống đất nhưng không gây thương tích gì. Thấy vậy, tổ công tác đã khống chế đưa ông X vào trụ sở Công an phường M để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn X đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Trong quá trình xảy ra sự việc, anh Trần Văn D đã dùng điện thoại di động của mình quay lại toàn bộ diễn biến sự việc.
Cáo trạng số: 151/CT–VKSPRTC ngày 10/9/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm truy tố bị cáo Nguyễn X về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn X từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách tương ứng.
- Về trách nhiệm dân sự: Đồng chí Nguyễn Thái S không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp chàm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 20 giờ ngày 14/8/2021, bị cáo Nguyễn X đã thực hiện hành vi dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ là đồng chí Nguyễn Thái S (Cảnh sát giao thông) thực hiện công vụ của mình theo Kế hoạch công tác tuần tra, kiểm soát số 1572/KH-CATP-CSGT,TT ngày 14/8/2021 của Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 1330 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm truy tố về tội danh và khung hình phạt trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nên cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, xét nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đồng chí Nguyễn Thái S không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe mô tô, biển kiểm soát 85R1-1291 của bị cáo và 01 điện thoại di động, hiệu Iphone X của anh Trần Văn D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phan Rang – Tháp Chàm tạm giữ để phục vụ việc xử lý vi phạm hành chính, phục vụ công tác điều tra vụ án và đã trao trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định.
Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về tội danh, khung hình phạt, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn X phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn X 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn X cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn X phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Xưng)
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP. PR-TC; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - CQĐT Công an TP. PR-TC; - CQTHAHS Công an TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - Sở Tư pháp tỉnh; - TAND tỉnh; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bảo Châu |