vanban.org

Bản án 172/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 25/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn K 08 (tám) tháng tù “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù củ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Hà Văn K 08 (tám) tháng tù “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2021/HS - ST
Ngày 25 tháng 9 năm 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Với thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Môn.

2. Bà Hoàng Thị Hồng.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần N- Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở TAND thành phố Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2021/QĐXXST-HS ngày 09/9/2021 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Hà Văn K, sinh năm 2001.

- Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.

- Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ Đông Giang, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

- Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 11/12.

- Họ và tên bố: Hà Văn D, sinh năm 1964.

- Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1969.

- Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba.

- Vợ, con: Chưa có.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân: Không.

- Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/7/2021 đến ngày 10/7/2021, hiện đang tại ngoại. (có mặt tại phiên tòa)

* Bị hại:

1- Ông Bùi Đông Hôn, sinh năm 1969

HKTT: Thôn Chỉ Ngoài, xã Hùng Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

Trú tại: Số nhà 105, đường Tân Ninh, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

2- Anh Bùi Ngọc K, sinh năm 1991

HKTT: Thôn Chỉ Ngoài, xã Hùng Sơn, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

Trú tại: Số nhà 105, đường Tân Ninh, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1- Anh Tạ Việt T, sinh năm 1986. Trú tại: Số nhà 95, phố Cốc, xã Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

2- Anh Nguyễn N, sinh năm 1987. Trú tại: Số nhà 29, đường Giáp Hải, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

3- Anh Nguyễn Hoàng Hiếu, sinh năm 2003. Trú tại: Số nhà 08, ngõ 52, đường Huyền Quang, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

* Người làm chứng: Chị Đào Thị Phú, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ dân phố Hòa Yên, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa tháng 6/2021, Hà Văn K sinh năm 2001, trú tại tổ Đông Giang, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang đến gặp anh Nguyễn Gia N sinh năm 1971 trú tại số nhà 105, đường Tân Ninh, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang để xin vào làm việc tại công trình xây dựng sửa chữa bờ đê Châu Xuyên, phường Lê Lợi do anh N làm chủ thầu. Sau khi được nhận vào làm việc khoảng 02 ngày thì K tự ý nghỉ việc. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 29/6/2021, K một mình đi bộ từ nhà đến khu vực công trường xây dựng ở bờ đê Châu Xuyên mục đích để gặp anh N xin quay lại làm việc. Anh N đồng ý và bảo K “Cứ về nghỉ đi, mai anh sắp xếp công việc rồi đi làm”. Sau đó K một mình đi bộ đến số nhà 105, đường Tân Ninh, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang là khu vực nghỉ ngơi của công nhân làm tại công trình xây dựng để chơi. Khi đến nhà, K gặp chị Đào Thị Phú sinh năm 1978 trú tại tổ Hòa Yên, phường Thọ Xương, thành phố Bắc Giang hiện là người nấu cơm phục vụ công nhân đang ở trong nhà. Do trước đó K đã từng làm việc tại công trình nên chị Phú có quen biết, K ngồi chơi một lúc đến khoảng 16 giờ cùng ngày, chị Phú nhờ K trông coi nhà giúp để đi chợ mua thực phẩm nấu cơm, lúc này chỉ còn một mình K ở trong nhà. Sau khi chị Phú đi thì K nằm chơi ở chiếc giường thứ nhất sát cạnh cửa ra vào phía bên tay phải hướng từ cửa chính đi vào. Lúc này, K nhìn thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S, màu sơn đỏ, ốp lưng màu đen của anh Bùi Đông Hôn sinh năm 1969 trú tại thị trấn Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, hiện ở tại số nhà 105, đường Tân Ninh, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, đang để tại vị trí dưới gối nằm trên giường và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu sơn xanh, có ốp lưng màu trắng, cũ đã qua sử dụng của anh Bùi Ngọc K sinh năm 1991 trú tại thị trấn Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, hiện cũng ở tại địa chỉ trên đang để tại vị trí dưới gối nằm trên chiếc giường thứ hai cạnh đó. Do không có công việc ổn định nên không có tiền để chi tiêu cá nhân, K đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu. Ngay sau đó, K dùng tay lấy 02 chiếc điện thoại và cất giấu vào trong túi quần phía trước bên trái và bên phải mỗi túi một chiếc điện thoại và bỏ ra khỏi nhà. Sau khi trộm cắp được điện thoại, K một mình đi bộ ra đến khu vực trước cổng nhà hàng Hải Đăng và bắt xe taxi đến cửa hàng điện thoại ở số 95, phố Cốc, xã Dĩnh Trì, thành phố Bắc Giang để bán chiếc điện thoại OPPO A12 màu sơn xanh cho anh Tạ Việt T sinh năm 1986 là chủ cửa hàng được số tiền 1.300.000 đồng và nhờ anh T phá khóa màn hình của chiếc điện thoại OPPO A3S hết 250.000 đồng. Sau đó, K cầm điện thoại và tiền rời đi. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 30/6/2021, K gọi điện cho Nguyễn Hoàng Hiếu sinh năm 2003 trú tại số nhà 08, ngõ 52, đường Huyền Quang, phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang, là bạn của K nhờ Hiếu mang chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A3S, màu sơn đỏ đến cửa hàng mua bán sửa chữa điện thoại “N” ở số 29, đường Giáp Hải, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang bán hộ. Hiếu đồng ý và cầm điện thoại K đưa đem đến địa chỉ K bảo bán cho anh Nguyễn N sinh năm 1987 được số tiền 900.000 đồng. Số tiền trên Hiếu đưa hết cho K rồi về nhà. Toàn bộ số tiền bán 02 chiếc điện thoại K đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 05/7/2021, anh Bùi Đông Hôn và anh Bùi Ngọc K có đơn trình báo Công an thành phố Bắc Giang về việc bị kẻ gian trộm cắp điện thoại. Cùng ngày, Hà Văn K đã đến Công an thành phố xin đầu thú về hành vi của mình. Ngày 09/7/2021, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác định hiện trường vụ trộm cắp tài sản.

Ngày 11/7/2021, Cơ quan điều tra tiến hành thực nghiệm điều tra vụ án, kết quả K đã thực hiện thành thục hành vi trộm cắp tài sản như đã khai trong quá trình điều tra.

Căn cứ lời khai của Hà Văn K về địa điểm tiêu thụ tài sản, Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với anh Tạ Việt T và Nguyễn N. Tại Cơ quan điều tra, anh Tạ Việt T tự nguyện giao nộp 01 chiếc điện thoại OPPO A12 màu sơn xanh đã mua của một nam thanh niên vào ngày 29/6/2021 với giá 1.300.000 đồng để phục vụ công tác điều tra. Anh Nguyễn N khai sau khi mua của K chiếc điện thoại OPPO A3S màu sơn đỏ, anh Nam đã bán cho một người không quen biết, nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Tại Kết luận định giá tài sản số 105/KL-HĐĐG ngày 06/7/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bắc Giang kết luận:

- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A3s, màu đỏ, mua tháng 3/2019, đã qua sử dụng, có trị giá tại thời điểm tháng 7/2021 là 1.300.000 đồng.

- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A12, màu xanh, mua tháng 2/2021, đã qua sử dụng có trị giá tại thời điểm tháng 7/2021 là 1.700.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 3.000.000 đồng.

Ngày 12/7/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Bùi Ngọc K 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu sơn xanh đã qua sử dụng. Đến nay, anh K không có yêu cầu bồi thường gì khác. Đối với chiếc điện thoại của anh Hôn không thu hồi được, K đã tự nguyện bồi thường cho anh Hôn số tiền 1.000.000 đồng, đến nay anh Hôn không có yêu cầu bồi thường gì khác, anh Bùi Ngọc K và Hôn đều có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Hà Văn K.

Đối với anh Tạ Việt T có hành vi mua tài sản do K đem đến bán nhưng không biết đó là tài sản do K phạm tội mà có nên anh T không vi phạm pháp luật. Sau khi giao nộp chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra, K đã đến xin lỗi và tự nguyện bồi thường cho anh T số tiền 1.300.000 đồng, đến nay anh T không có yêu cầu bồi thường gì khác.

Đối với anh Nguyễn N có hành vi mua tài sản do K nhờ người đem đến bán nhưng không biết đó là tài sản do K phạm tội mà có nên anh Nam không vi phạm pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Hoàng Hiếu là người trực tiếp mang chiếc điện thoại do K trộm cắp được đến bán cho anh Nguyễn N nhưng không biết đó là tài sản do K phạm tội mà có nên Hiếu không vi phạm pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, Hà Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số 165/CT-VKS ngày 06/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Hà Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo và đề nghị:

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hà Văn K từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ngày 12/7/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Bùi Ngọc K 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu sơn xanh đã qua sử dụng. Đến nay, anh K không có yêu cầu bồi thường gì khác. Đối với chiếc điện thoại của anh Bùi Đông Hôn không thu hồi được, K đã tự nguyện bồi thường cho anh Hôn số tiền 1.000.000 đồng, đến nay anh Hôn không có yêu cầu bồi thường gì khác, nên không đề nghị giải quyết.

3. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo hiện đang không có việc làm và thu nhập do dịch bệnh covid nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

4. Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu sơn xanh đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Bùi Ngọc K. Đối với chiếc điện thoại của anh Bùi Đông Hôn không thu hồi được nên không còn vật chứng để xử lý.

5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo nhận tội và không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo Hà Văn K nói lời sau cùng đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng điều tra viên, kiểm sát viên, của cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Giang, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về sự vắng mặt của người bị hại nhưng có đơn xin xử vắng mặt, người liên quan và người chứng kiến đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ nên quyết định xét xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về tội danh: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 29/6/2021, tại số nhà 105, đường Tân Ninh, phường Trần Phú, thành phố Bắc Giang, Hà Văn K, sinh năm 2001 trú tại tổ Đông Giang, phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang đã có hành vi trộm cắp tài sản 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S, màu sơn đỏ, cũ đã qua sử dụng của anh Bùi Đông Hôn sinh năm 1969 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu sơn xanh, cũ đã qua sử dụng của anh Bùi Ngọc K sinh năm 1991 đều trú tại thị trấn Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, hiện cùng ở địa chỉ trên. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 3.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tài sản trộm cắp có giá trị là 3.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu và hoang mang trong quần chúng nhân dân cũng như gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.

. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã ra đầu thú và bồi thường khác phục hậu quả cho bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình và không cần thiết cách ly bị cáo ra khởi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại khoảng 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

. Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt thể hiện bằng việc ngoài lần phạm tội này ra thì bị cáo chưa phạm tội lần nào, cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ngày 12/7/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Bùi Ngọc K 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu sơn xanh đã qua sử dụng. Đến nay, anh K không có yêu cầu bồi thường gì khác. Đối với chiếc điện thoại của anh Hôn không thu hồi được, K đã tự nguyện bồi thường cho anh Hôn số tiền 1.000.000 đồng, đến nay anh Hôn không có yêu cầu bồi thường gì khác, anh K và Hôn đều có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Hà Văn K. Nên không đặt ra xem xét giải quyết.

. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

. Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu sơn xanh đã qua sử dụng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Bùi Ngọc K. Đối với chiếc điện thoại của anh Bùi Đông Hôn không thu hồi được nên không còn vật chứng để xử lý.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 65; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn K 08 (tám) tháng tù “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường Xương Giang, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã được hưởng án treo.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Hà Văn K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiêụ thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Cỡ chữ