vanban.org

Bản án 172/2021/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 22/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lữ Thị Thủy, Nguyễn Thị Minh và Phan Thị Hiền phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 54 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lữ Thị Thủy 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/02/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ Thị T và đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lữ Thị Thủy, Nguyễn Thị Minh và Phan Thị Hiền phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 172/2021/HS-ST
Ngày: 22-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thạch Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Xuân Thành

Bà Hoàng Thị Hường

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Hoàng Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Đức Việt Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2021/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lữ Thị Thủy; giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 19/8/1990 tại huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 1, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 2/12; con ông: Lữ Văn Thi, sinh năm: 1967 và bà Vi Thị Hằng, sinh năm: 1966 (đều đã chết); có chồng: Nguyễn Xuân Dũng, sinh năm: 1993 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/02/2021 đến ngày 11/02/2021 thì được trả tự do, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Minh; giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 04/11/1992 tại huyện huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm 3, xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Nguyễn Xuân Thanh, sinh năm: 1970 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bình, sinh năm: 1971; có chồng: Phan Nguyễn Bá Triều, sinh năm: 1986 và 01 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/02/2021 đến nay. Có mặt.

3. Họ và tên: Phan Thị Hiền; giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 24/01/1985 tại huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Xóm 1, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Phan Thế Mĩa, sinh năm: 1953 và bà Nguyễn Thị Trinh, sinh năm: 1956; có chồng: Hoàng Văn Anh, sinh năm: 1980 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/02/2021 đến ngày 11/02/2021 thì được trả tự do, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lữ Thị Thủy: Luật sư Nguyễn Thị Tú, văn phòng Luật sư Hà Vinh, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Xuân Dũng; sinh năm: 1993 (Là chồng của bị cáo Lữ Thị Thủy).

Nơi cư trú: Xóm 1, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi,tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 01/2021, Lữ Thị Thủy đi xe khách lên thị trấn Kim Sơn, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An gặp người đàn ông tên Hiền (không rõ lai lịch, địa chỉ), đưa cho Hiền 15.000.000 đồng để đi mua ma túy. Khoảng 03 giờ sau, Hiền quay lại đưa cho Thủy 03 gói Hồng phiến, 01 gói ma túy “Đá”, 01 gói Heroine. Thủy đưa thêm cho Hiền 2.000.000 đồng tiền công rồi bắt xe khách đi về nhà.

Cũng vào thời gian đầu tháng 01/2021, Lữ Thị Thủy thuê Nguyễn Thị Minh, sinh năm 1992, trú tại xóm 3, xã Thượng Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An và Phan Thị Hiền, sinh năm 1985, trú tại xóm 1, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đến giúp việc nhà và nói Minh bán lẻ ma túy cho Thủy. Lữ Thị Thủy chia gói ma túy “Đá” thành nhiều gói nhỏ và lấy nửa gói Hồng phiến đưa cho Minh bán, thống nhất với Minh bán mỗi viên Hồng phiến từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng và 200.000 đồng/01 gói ma túy “Đá”. Số ma túy còn lại Thủy cất giữ, khi nào Minh bán hết số ma túy đã nhận thì Thủy sẽ đưa tiếp cho Minh để bán. Khoảng 11h40’ ngày 03/02/2021, Nguyễn Tiến Mạnh, sinh năm 2002, trú tại xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An đến nhà Lữ Thị Thủy để mua 200.000 đồng ma túy, khi Nguyễn Thị Minh đang chuẩn bị bán ma túy cho Mạnh thì bị tổ công tác phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nghệ An phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ gồm 01 gói ni lon màu xanh, 01 gói ni lon màu đen, 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có nhiều viên nén màu hồng và 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có nhiều túi nilon màu trắng chứa các hạt tinh thể màu trắng (tất cả nghi là ma túy) cùng số tiền 6.500.000 đồng.

Hồi 15h05’ ngày 03/02/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lữ Thị Thủy, thu giữ: 01 gói nilon màu đỏ, 01 túi ni lon màu xanh, 02 túi ni lon màu hồng bên trong chứa nhiều viên nén màu hồng và 01 gói ni lon màu trắng bên trong được gói bằng giấy kẻ ngang chứa chất cục bột màu trắng (tất cả nghi là ma túy) cùng số tiền 4.750.000 đồng.

Khoảng 17h ngày 03/02/2021, Phan Thị Hiền đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An đầu thú về hành vi bán trái phép chất ma túy của Hiền vào ngày 31/01/2021 và khai nhận: Khoảng 15h ngày 31/01/2021, khi Hiền và Thủy đang lau dọn sân nhà Thủy thì có 01 nam thanh niên đến hỏi mua 01 viên Hồng phiến nên Thủy nói Hiền lại bán cho người này. Hiền đi lại tủ kính (là nơi Minh cất dấu ma túy) lấy trong lọ màu trắng ra 01 viên Hồng phiến bán cho người này với giá 100.000 đồng.

Ngày 05/02/2021, Nguyễn Xuân Dũng, sinh năm 1993, trú tại xóm 1, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu (là chồng của Lữ Thị Thủy và sinh sống cùng nhà với Thủy) đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An đầu thú về hành vi “Không tố giác tội phạm” và khai nhận: Trong thời gian Dũng và Lữ Thị Thủy sinh sống chung trong ngôi nhà của bố mẹ Dũng tại Xóm 1, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, Dũng biết rõ việc hàng ngày Thủy và Nguyễn Thị Minh bán ma túy nhưng không can ngăn mà còn nói với Thủy: “Bị công an bắt thì tự chịu, làm thì cẩn thận”.

Bản kết luận giám định số 325/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 25/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

- 20 mẫu chất tinh thể màu trắng (ký hiệu từ M1 đến M20) thu giữ của Nguyễn Thị Minh gửi tới giám định đều là ma túy (Methamphetamine). Số chất tinh thể màu trắng (20 gói) thu giữ của Nguyễn Thị Minh có tổng khối lượng là 4,53gam.

- 3 mẫu các viên nén màu hồng (ký hiệu từ M21 đến M23) thu giữ của Nguyễn Thị Minh gửi tới giám định đều là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén màu hồng thu giữ của Nguyễn Thị Minh có tổng khối lượng là 16,36 gam.

- 4 mẫu các viên nén màu hồng (ký hiệu từ M24 đến M27) thu giữ khi khám xét nơi ở của Lữ Thị Thủy, Nguyễn Xuân Dũng gửi tới giám định đều là ma túy (Methamphetamine). Số viên nén màu hồng thu giữ khi khám xét nơi ở của Lữ Thị Thủy và Nguyễn Xuân Dũng có tổng khối lượng là 45,35 gam.

- Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M28) thu giữ khi khám xét nơi ở của Lữ Thị Thủy và Nguyễn Xuân Dũng gửi tới giám định là ma túy (Heroine). Chất bột màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của Lữ Thị Thủy và Nguyễn Xuân Dũng có khối lượng là 0,39 gam.

Vật chứng còn lại của vụ án gồm: 15,06 gam Methamphetamin (thu giữ của Nguyễn Thị Minh); 0,09 gam Heroine; 39,96 gam Methamphetamine (thu giữ của Lữ Thị Thủy); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu vàng đã qua sử dụng, số Imei 354075097360360 (thu giữ của Nguyễn Thị Minh); 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu ghi đã qua sử dụng, số Imei 352866111530273 (thu giữ của Lữ thị Thủy); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, viền màu đỏ đã qua sử dụng (thu giữ của Phan Thị Hiền); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu đen đã qua sử dụng, số Imei 354075097060192 (thu giữ của Nguyễn Xuân Dũng) được niêm phong, bảo quản theo đúng quy định. Số tiền 11.250.000 đồng thu giữ trong vụ án đang được gửi giữ tại Kho bạc nhà nước tỉnh Nghệ An.

Nguyễn Xuân Dũng bị cơ quan điều tra khởi tố về tội “Không tố giác tội phạm”. Quá trình điều tra xác định trước khi phạm tội, Dũng có thời gian đi điều trị bệnh tại Bệnh viện tâm thần Nghệ An và có đơn xin giám định tâm thần. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định pháp y về tâm thần đối với Nguyễn Xuân Dũng nhưng chưa có kết quả. Vì vậy cơ quan điều tra ra Quyết định tách vụ án, khi có kết quả giám định tâm thần đối với Nguyễn Xuân Dũng sẽ xử lý sau.

- Tại Bản cáo trạng số 188/CT-VKS-P1 ngày 27/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố: bị cáo Lữ Thị Thủy về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Thị Minh về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Phan Thị Hiền về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ quan điểm truy tố các bị cáo Lữ Thị Thủy, Nguyễn Thị Minh và Phan Thị Hiền như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lữ Thị Thủy từ 12 đến 13 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh từ 06 đến 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Thị Hiền từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

* Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 15,06 gam Methamphetamin (thu giữ của Nguyễn Thị Minh); 0,09 gam Heroine và 39,96 gam Methamphetamine (thu giữ của Lữ Thị Thủy);

Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 11.250.000 đồng thu giữ trong vụ án do phạm tội mà có.

Trả lại cho các bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu vàng đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Thị Minh); 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu ghi đã qua sử dụng (thu giữ của Lữ thị Thủy); 1 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, viền màu đỏ đã qua sử dụng (thu giữ của Phan Thị Hiền); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu đen đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Xuân Dũng) được niêm phong, bảo quản theo đúng quy định.

* Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Lữ Thị Thủy: Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về phần tội danh mà bị cáo bị truy tố và xét xử. Đề nghị HĐXX xem xét bị cáo Lữ Thị Thủy không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo Lữ Thị Thủy, Nguyễn Thị Minh, Phan Thị Hiền khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến gì tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Lữ Thị Thủy: Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, đang nuôi con nhỏ, bị cáo ân hận việc làm của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thị Minh: Bị cáo biết mình đã sai phạm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Phan Thị Hiền: Bị cáo biết việc làm là sai nên đã ra đầu thú, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng trong qúa trình điều tra, truy tố của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, luật sư bào chữa cho bị cáo, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Trong vụ án có Nguyễn Xuân Dũng bị cơ quan điều tra khởi tố về tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra xác định trước khi phạm tội, Dũng có thời gian đi điều trị bệnh tại Bệnh viện tâm thần Nghệ An và có đơn xin giám định tâm thần. Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định pháp y về tâm thần đối với Nguyễn Xuân Dũng nhưng chưa có kết quả. Vì vậy cơ quan điều tra ra Quyết định tách vụ án, khi có kết quả giám định tâm thần đối với Nguyễn Xuân Dũng sẽ xử lý sau là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Nguyễn Xuân Dũng tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi liên quan đến vật chứng của vụ án, tại phiên tòa Dũng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của Dũng, việc Dũng vắng mặt không ảnh hưởng tới quá trình giải quyết vụ án.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Lữ Thị Thủy, Nguyễn Thị Minh, Phan Thị Hiền khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra. Có đủ căn cứ để khẳng định:

Vào đầu tháng 01/2021, Lữ Thị Thủy mua 0,39 gam ma túy Heroine và 66,24 gam ma túy Methamphetamine của người đàn ông tên Hiền ở huyện Quế Phong với số tiền 17.000.000 đồng để đưa về chỗ ở tại Xóm 1, xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An bán kiếm lời. Bị cáo Thủy đưa cho bị cáo Nguyễn Thị Minh 20,89 gam ma túy Methamphetamine để Minh bán cho các đối tượng đến mua Hồng phiến với giá bán từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng/01 viên hồng phiến và 200.000 đồng/01 gói ma túy “Đá”. Khoảng 11h40’ ngày 03/02/2021, Nguyễn Tiến Mạnh đến gặp Nguyễn Thị Minh để mua 200.000 đồng ma túy, khi Minh đang chuẩn bị bán ma túy cho Mạnh thì bị phát cơ quan Công An phát hiện bắt quả tang.

Ngày 03/02/2021, Phan Thị Hiền là người được Thủy thuê làm công, đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An đầu thú vào khoảng 15h ngày 31/01/2021 khi Hiền và Thủy đang lau dọn sân nhà thì có 01 nam thanh niên đến hỏi mua 01 viên Hồng phiến, bị cáoThủy nói với Hiền bán cho người này. Quá trình điều tra không xác định được người mua, tuy nhiên các bị cáo Lữ Thị Thủy và Phan Thị Hiền trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều thừa nhận Thủy nhờ Hiền bán hộ 01 viên hồng phiến với số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), số tiền này bị cáo Hiền bỏ vào trong tủ kính. Bị cáo Hiền biết rõ việc bị cáo Thủy và bị cáo Minh bán ma túy, biết rõ bị cáo Thủy nhờ bán ma túy cho người nam thanh niên, nhận thức được bán ma túy là vi phạm Pháp luật nhưng vẫn thực hiện, do đó bị cáo Hiền phải chịu trách nhiệm hình sự hành vi mua bán trái pháp chất ma túy với vai trò đồng phạm.

Bản kết luận giám định số 325/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 25/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:

- Thu giữ của Nguyễn Thị Minh ma túy (Methamphetamine) tinh thể màu trắng có tổng khối lượng là 4,53 gam; Số viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 16,36 gam. Tổng khối lượng 20,89 gam ma túy Methamphetamine.

- Thu giữ khi khám xét nơi ở của Lữ Thị Thủy, Nguyễn Xuân Dũng ma túy (Methamphetamine) viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 45,35 gam và ma túy (Heroine) có khối lượng là 0,39 gam.

Có căn cứ kết luận các bị cáo đã phạm tội như sau: Bị cáo Lữ Thị Thủy có hành vi mua bán, phải chịu trách nhiệm toàn bộ khối lượng ma túy thu giữ tại Nguyễn Thị Minh và khối lượng ma túy khám xét trong nhà của bị cáo Thủy, gồm 0,39 gam ma túy Heroine và 66,24 gam ma túy Methamphetamine. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm h khoản 3 điều 251 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Thị Minh có hành vi giúp sức cho bị cáo Lữ Thị Thủy mua bán khối lượng 20,89 gam ma túy Methamphetamine. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm i khoản 2 điều 251 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Phan Thị Hiền có hành vi giúp sức cho bị cáo Lữ Thị Thủy mua bán 01 viên ma túy Methamphetamine. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 điều 251 Bộ luật hình sự.

Đúng như bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo.

Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của nhà nước về quản lý các chất Ma túy và làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an, toàn xã hội. Ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội không những gây tác hại nghiêm trọng đến trật tự an ninh xã hội, mà còn phá hoại hạnh phúc và kinh tế gia đình, đồng thời là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Các bị cáo Lữ Thị Thủy, Nguyễn Thị Minh và Phan Thị Hiền thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, trong đó bị cáo Lữ Thị Thủy có vai trò là người chủ mưu việc mua bán trái phép chất ma túy, các bị cáo Nguyễn Thị Minh, Phan Thị Hiền có vai trò giúp sức, các bị cáo thực hiên hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm mục đích vụ lợi, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm minh phù hợp tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo Lữ Thị Thủy, Nguyễn Thị Minh, Phan Thị Hiền thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lữ Thị Thủy được Công an xã Mỹ Thành, huyện Yên Thành xác nhận ngày 20/01/2021có cung cấp thông tin giúp đơn vị bắt giữ Nguyễn Văn Anh trú tại xã Mỹ Thành có hành vi tàng trữ trái phép ma túy, đã được Công an huyện Yên Thành khởi tố vụ án. Công an xã Đô Thành, huyện Yên Thành xác nhận ngày 13/7/2021thành tích tìm kiếm người đuối nước. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Thị Minh: Tại Công văn số 364/PC01-DD3 ngày 23/10/2020 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh xác nhận bị cáo có thành tích tố giác tội phạm, giúp đỡ cơ quan chức năng bắt giữ tội phạm liên quan đến vật liệu nổ, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định điểm t, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Phan Thị Hiền: Sau khi phạm tội, bị cáo đã chủ động ra đầu thú ngày 03/2/2021; bị cáo có bố đẻ là ông Phan Văn Mĩa là thương binh hạng 4/4, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Xét cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục các bị cáo, đồng thời cũng để răn đe, phong ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cần xem xét các các bị cáo Lữ Thị Thủy, Nguyễn Thị Minh thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về phạm tội của mình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó giảm nhẹ về hình phạt, áp dụng cho các bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Phan Thị Hiền phạm tội lần đầu và là người giúp sức có vai trò không đáng kể, áp dụng hình phạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại khoản 2 điều 54 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các tài liệu trong hồ sơ thể hiện các bị cáo không có nghề nghiệp, số tiền bán ma túy đã bị cơ quan công an thu giữ, chưa bị cáo nào được hưởng lợi, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đang nuôi con nhỏ, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thị Minh để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Ma túy là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, do đó cần tich thu tiêu hủy khối lượng ma túy sau khi lấy mẫu giám định còn lại 15,06 gam Methamphetamin (thu giữ của Nguyễn Thị Minh); 0,09 gam Heroine và 39,96 gam Methamphetamine (thu giữ của Lữ Thị Thủy).

- Tại phiên tòa bị cáo Minh trình bày số tiền thu giữ là tiền bán ma túy nhưng chưa đưa cho bị cáo Thủy thì bị Công thu giữ, bị cáo Lữ Thị Thủy thừa nhận số tiền 11.250.000 đồng (Mười một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) thu giữ trong vụ án là tiền bán ma túy mà bị cáo chưa được hưởng lợi. Do đó số tiền này được xác định do phạm tội mà có, cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Quá trình điều tra thu giữ một số điện thoại, xét các điện thoại nhưng không liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nay trả lại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu vàng đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Thị Minh); 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu ghi đã qua sử dụng (thu giữ của Lữ thị Thủy); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, viền màu đỏ đã qua sử dụng (thu giữ của Phan Thị Hiền); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu đen đã qua sử dụng (thu giữ của Nguyễn Xuân Dũng).

Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lữ Thị Thủy, Thủy khai người này tên Hiền nhưng không rõ lai lịch, địa chỉ. Vì vậy cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.

Đối với Nguyễn Tiến Mạnh là người đã đến nhà Lữ Thị Thủy để mua 200.000 đồng ma túy, Mạnh khai mua ma túy để sử dụng nhưng do Mạnh chưa nhận được ma túy từ Nguyễn Thị Minh nên không xác định được khối lượng ma túy, không đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra đã xử phạt hành chính đối với Nguyễn Tiến Mạnh là đúng với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Lữ Thị Thủy, Nguyễn Thị Minh và Phan Thị Hiền phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1. - Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lữ Thị Thủy 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/02/2021 đến ngày 11/02/2021.

- Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh 5 (năm) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/02/2021.

- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Thị Hiền 18 (mười tám) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 03/02/2021 đến ngày 11/02/2021.

2. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tich thu tiêu hủy khối lượng ma túy sau khi lấy mẫu giám định còn lại 15,06 gam Methamphetamin (thu giữ của Nguyễn Thị Minh); 0,09 gam Heroine và 39,96 gam Methamphetamine (thu giữ của Lữ Thị Thủy).

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 11.250.000 đồng thu giữ của các bị cáo.

Số tiền có tại Biên bản giao nhận tài sản số 43/2021/BBBG-KBNA(VNĐ) ngày 06/9/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Nghệ An và Kho bạc Nhà nước Nghệ An.

- Trả lại cho Nguyễn Thị Minh 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu vàng đã qua sử dụng; Lữ Thị Thủy 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max màu ghi đã qua sử dụng; Phan Thị Hiền 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, viền màu đỏ đã qua sử dụng; Nguyễn Xuân Dũng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 8 màu đen đã qua sử dụng.

Đặc điểm vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

3. Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Lữ Thị Thủy, Nguyễn Thị Minh, Phan Thị Hiền mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngàynhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ